Trang thái chân không, do đó, hiểu là trạng thái có áp suất nhỏ hơn áp suất khí quyển trung bình chuẩn, và được chia thành:
1. Chân không thấp (p>100Pa)
2. Chân không trung bình (100Pa>p>0.1Pa)
3. Chân không cao (0.1Pa>p>10-5Pa)
4. Chân không siêu cao (p<10-5Pa)
Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014
Môi trường chân không là gì?
Chân không, trong lý thuyết cổ điển, là không gian không chứa vật chất.
Như vậy chân không có thể tích khác không và khối lượng (và do đó năng
lượng) bằng không. Do không có vật chất bên trong, chân không là nơi
không có áp suất.
Một số lý thuyết lượng tử cho biết khái niệm chân không theo nghĩa cổ điển không tồn tại, do vi phạm nguyên lý bất định. Chân không, theo các lý thuyết này, luôn có sự dao động khối lượng (và do đó năng lượng) nhỏ. Điều này nghĩa là, ở một thời điểm nào đó, luôn có thể xuất hiện một cách ngẫu nhiên các hạt có năng lượng dương và một thời điểm khác hạt này biến mất. Các hạt ngẫu nhiên xuất hiện trong chân không tạo ra một áp suất gọi là áp suất lượng tử chân không. Các thí nghiệm đo đạc áp suất này sẽ giúp khẳng định độ chính xác của các lý thuyết lượng tử về chân không.
Trong thực tế, không có nơi nào trong vũ trụ quan sát được tồn tại chân không hoàn hảo như lý thuyết.
Một số lý thuyết lượng tử cho biết khái niệm chân không theo nghĩa cổ điển không tồn tại, do vi phạm nguyên lý bất định. Chân không, theo các lý thuyết này, luôn có sự dao động khối lượng (và do đó năng lượng) nhỏ. Điều này nghĩa là, ở một thời điểm nào đó, luôn có thể xuất hiện một cách ngẫu nhiên các hạt có năng lượng dương và một thời điểm khác hạt này biến mất. Các hạt ngẫu nhiên xuất hiện trong chân không tạo ra một áp suất gọi là áp suất lượng tử chân không. Các thí nghiệm đo đạc áp suất này sẽ giúp khẳng định độ chính xác của các lý thuyết lượng tử về chân không.
Trong thực tế, không có nơi nào trong vũ trụ quan sát được tồn tại chân không hoàn hảo như lý thuyết.
Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014
Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam đang khó khăn
Tại Hải Phòng, từ đầu năm đến nay, hàng loạt các doanh nghiệp như Công ty CP Công nghiệp tàu thủy Tam Bạc, Công ty Công nghiệp tàu thủy Thành Long, Công ty CP Cơ khí đóng tàu Hạ Long đã phải tạm ngừng hoạt động do sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn.
Những DN hoạt động cầm chừng, hàng tồn kho cao nhiều vô kể, trong đó không ít là các doanh nghiệp cơ khí lớn. Ông Trần Văn Quang, Tổng giám đốc Công ty CP Chế tạo thiết bị điện Đông Anh cho biết, từ đầu năm 2012 tới nay công ty này đang phải hoạt động cầm chừng và lượng hàng tồn kho ngày càng nhiều.
Nhà máy chế tạo thiết bị nâng hạ thuộc Xí nghiệp cơ khí Quang Trung Ninh Bình vốn là đơn vị được đầu tư theo chương trình cơ khí trọng điểm của Nhà nước. Nhưng tại thời điểm này, hàng chục cần cẩu lớn nhỏ, hàng trăm tấn thiết bị siêu trường, siêu trọng phục vụ các ngành đóng tàu, thủy điện, dầu khí vẫn đang xếp xó.
Công ty Tự Thành (KCN Hà Bình Phương - Thường Tín - Hà Nội) chuyên chế tạo và cung cấp nhiều loại máy xây dựng những năm trước tiêu thụ khá tốt. Tuy nhiên từ sau Tết , công ty đã phải "đắp chiếu" một dây chuyền sản xuất chính và chuyển sang sản xuất theo đơn đặt hàng những chi tiết, cấu kiện nhỏ dùng để thay thế.
Theo ông Nguyễn Văn Thụ, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam thì thiếu vốn là nguyên nhân quan trọng khiến nhiều doanh nghiệp cơ khí gặp khó khăn. Hiện có tới 50% DN đang thiếu vốn. Lợi nhuận của các doanh nghiệp cơ khí chỉ đạt bình quân từ 3-5% /năm, vậy nhưng ngân hàng đang cho vay với lãi suất lên tới 17% và thời gian trước tới 20% thì không doanh nghiệp nào dám vay bởi như vậy là cầm chắc thua lỗ.
Ngành cơ khí cũng được ưu đãi vay vốn (trong chiến lược phát triển cơ khí việt Nam đến 2020 và chương trình cơ khí trọng điểm) nhưng trong suốt 10 năm qua cũng chỉ có khoảng 8 dự án được vay vốn ưu đãi và lãi vay khá cao; chẳng hạn năm 2011 vốn vay ưu đãi dành cho các doanh nghiệp cơ khí của Ngân hàng Phát triển Việt Nam ở mức 11,4%. Ông Ngô Văn Trụ, Phó Vụ trưởng Vụ Công nghệp nặng Bộ Công thương cho biết, đối với các nhà đầu tư cơ khí nếu được vay lãi suất 0% trong 10 năm phải trả nợ cũng không ai muốn làm nữa là lãi suất ưu đãi trên 11%.
Không những thế thủ tục vay vốn cũng khá khó khăn và phức tạp. Ông Bùi Ngọc Huyên, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần ô tô Xuân Kiên (Vinaxuki) cho biết, dự án đầu tư đúc khuôn cho sản xuất thân vỏ ô tô của DN tới 1.000 tỷ đồng, mặc dù dự án đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho vay 250 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi từ năm 2009 nhưng đến nay, doanh nghiệp vẫn chưa có được giải ngân. "Nút thắt" chính là do thủ tục rườm rà, cứng nhắc", ông Huyên nói.
Các doanh nghiệp cho biết, đầu tư một dự án cơ khí cần thời gian 3 - 5 năm, nhưng lãi vay thì luôn trong tình trạng đầu năm một mức lãi suất, cuối năm một mức lãi suất khác cao hơn, khiến chủ đầu tư cứ phải chạy theo điều chỉnh dự án để có tỷ suất lợi nhuận hợp với lãi suất. Ở thời điểm hiện nay, với lãi suất vay thương mại khoảng 17% và không có ưu đãi nào cho lĩnh vực cơ khí thì các DN bó tay.
Bên cạnh đó thời gian qua do chính sách thắt chặt tín dụng nên nhiều doanh nghiệp cơ khí muốn tiếp cận vốn ngân hàng không được đã phải tìm đến các kênh tín dụng khác với lãi suất cao hơn. Điều này đương nhiên đẩy chi phí lên, đồng nghĩa với rủi ro cao, đưa doanh nghiệp đến nguy cơ phá sản.
Mịt mù tương lai vì tắc đầu ra
Thiếu đầu ra cũng là nguyên nhân quan trọng khiến hàng tồn kho tăng và gây ra khó khăn cho sản xuất. Nhà nước cắt giảm đầu tư công, nhiều thị trường trầm lắng khiến cho máy móc sản xuất ra không bán được phải chất đống trong kho thì doanh nghiệp cơ khí làm sao có thể tránh khỏi tình trạng đình trệ sản xuất, phá sản...
Hiệp hội doanh nghiệp Cơ khí cho biết, một nguyên nhân quan trọng nữa khiến cho doanh nghiệp cơ khí trong nước không có đầu ra là các chính sách làm cho họ luôn bị thua ngay trên sân nhà. Hiện nay, do quy định của Luật Đấu thầu chưa chặt chẽ, dẫn tới các doanh nghiệp trong nước khó cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, bởi trong đấu thầu không tính tới nguồn gốc xuất xứ, không tính tới tỷ lệ nội địa hoá của thiết bị...
Ông Thụ cho biết, Luật Đấu thầu được ban hành năm 2005 đang "bó chân bó tay" chính doanh nghiệp Việt Nam khi chỉ chú trọng đến yếu tố giá mà không tính đến nguồn gốc xuất xứ và tỷ lệ nội địa hóa. Do vậy, doanh nghiệp cơ khí nội địa luôn bị thua doanh nghiệp nước ngoài ngay trên sân nhà.
Theo ông Thụ trên thực tế nhiều công trình sử dụng nguồn vốn nhà nước nhưng vẫn sử dụng các thiết bị nhập khẩu từ nước ngoài. Hiệp hội đã kiến nghị 7 năm nay nhưng Luật Đấu thầu vẫn không được sửa đổi.
Việc tách nhỏ các gói thầu cũng vậy. Chỉ tách nhỏ gói thầu thì các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam mới có đủ năng lực và cơ hội tham gia. Nhưng điều này đến nay cũng rất khó. Tháng 3/2011 vừa qua, Hiệp hội đã kiến nghị lên Chính phủ về chủ trương nội địa hóa dự án nhiệt điện trên cơ sở tách ra làm 10 gói thầu cơ khí để doanh nghiệp trong nước có thể tham gia. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã có chỉ đạo nhưng cho đến nay doanh nghiệp vẫn không có chính sách cụ thể để triển khai, ông Thụ bức xúc.
Bà Phạm Thị Thu Hà, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho rằng, một số chính sách hỗ trợ sản xuất và thuế đối với sản xuất cơ khí trong nước so với nhập khẩu có sự chênh lệch, khiến giá sản xuất trong nước bị đẩy lên cao hơn.
Ngành dầu khí đóng được giàn khoan tự nâng. Đối với sản phẩm này, nếu nhập khẩu toàn bộ có mức thuế bằng 0%. Tuy nhiên, khi trong nước chưa sản xuất được toàn bộ, nhà sản xuất phải nhập khẩu một số phụ tùng lại phải chịu thuế. Bất cập này làm đội giá thành và khó cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của nước ngoài.
Ông Nguyễn Văn Thụ cho rằng, ngành cơ khí Việt Nam đang tụt hậu khá xa so với các nước trong khu vực. Hiện 80% thị trường cơ khí trong nước thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài. Nhiều dự án tổng thầu xây dựng nhà máy, công trình quốc gia, doanh nghiệp cơ khí Việt Nam đều thua các nhà thầu ngoại.
Vẫn theo ông Thụ, trong 10 năm tới, Việt Nam có kế hoạch xây dựng gần 100 nhà máy nhiệt điện, đây là cơ hội lớn cho ngành cơ khí Việt Nam. Tuy nhiên các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam có giành được phần việc này không thì chưa ai dám chắc.
Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn tới 2020 đề ra mục tiêu cơ khí trong nước sẽ tự sản xuất được khoảng 100 tỷ đến 125 tỷ USD tiền hàng. Đây là thị trường rất lớn nhưng với thực trạng hiện nay điều đó khó trở thành hiện thực.
Những DN hoạt động cầm chừng, hàng tồn kho cao nhiều vô kể, trong đó không ít là các doanh nghiệp cơ khí lớn. Ông Trần Văn Quang, Tổng giám đốc Công ty CP Chế tạo thiết bị điện Đông Anh cho biết, từ đầu năm 2012 tới nay công ty này đang phải hoạt động cầm chừng và lượng hàng tồn kho ngày càng nhiều.
Nhà máy chế tạo thiết bị nâng hạ thuộc Xí nghiệp cơ khí Quang Trung Ninh Bình vốn là đơn vị được đầu tư theo chương trình cơ khí trọng điểm của Nhà nước. Nhưng tại thời điểm này, hàng chục cần cẩu lớn nhỏ, hàng trăm tấn thiết bị siêu trường, siêu trọng phục vụ các ngành đóng tàu, thủy điện, dầu khí vẫn đang xếp xó.
Công ty Tự Thành (KCN Hà Bình Phương - Thường Tín - Hà Nội) chuyên chế tạo và cung cấp nhiều loại máy xây dựng những năm trước tiêu thụ khá tốt. Tuy nhiên từ sau Tết , công ty đã phải "đắp chiếu" một dây chuyền sản xuất chính và chuyển sang sản xuất theo đơn đặt hàng những chi tiết, cấu kiện nhỏ dùng để thay thế.
Theo ông Nguyễn Văn Thụ, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam thì thiếu vốn là nguyên nhân quan trọng khiến nhiều doanh nghiệp cơ khí gặp khó khăn. Hiện có tới 50% DN đang thiếu vốn. Lợi nhuận của các doanh nghiệp cơ khí chỉ đạt bình quân từ 3-5% /năm, vậy nhưng ngân hàng đang cho vay với lãi suất lên tới 17% và thời gian trước tới 20% thì không doanh nghiệp nào dám vay bởi như vậy là cầm chắc thua lỗ.
Ngành cơ khí cũng được ưu đãi vay vốn (trong chiến lược phát triển cơ khí việt Nam đến 2020 và chương trình cơ khí trọng điểm) nhưng trong suốt 10 năm qua cũng chỉ có khoảng 8 dự án được vay vốn ưu đãi và lãi vay khá cao; chẳng hạn năm 2011 vốn vay ưu đãi dành cho các doanh nghiệp cơ khí của Ngân hàng Phát triển Việt Nam ở mức 11,4%. Ông Ngô Văn Trụ, Phó Vụ trưởng Vụ Công nghệp nặng Bộ Công thương cho biết, đối với các nhà đầu tư cơ khí nếu được vay lãi suất 0% trong 10 năm phải trả nợ cũng không ai muốn làm nữa là lãi suất ưu đãi trên 11%.
Không những thế thủ tục vay vốn cũng khá khó khăn và phức tạp. Ông Bùi Ngọc Huyên, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần ô tô Xuân Kiên (Vinaxuki) cho biết, dự án đầu tư đúc khuôn cho sản xuất thân vỏ ô tô của DN tới 1.000 tỷ đồng, mặc dù dự án đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho vay 250 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi từ năm 2009 nhưng đến nay, doanh nghiệp vẫn chưa có được giải ngân. "Nút thắt" chính là do thủ tục rườm rà, cứng nhắc", ông Huyên nói.
Các doanh nghiệp cho biết, đầu tư một dự án cơ khí cần thời gian 3 - 5 năm, nhưng lãi vay thì luôn trong tình trạng đầu năm một mức lãi suất, cuối năm một mức lãi suất khác cao hơn, khiến chủ đầu tư cứ phải chạy theo điều chỉnh dự án để có tỷ suất lợi nhuận hợp với lãi suất. Ở thời điểm hiện nay, với lãi suất vay thương mại khoảng 17% và không có ưu đãi nào cho lĩnh vực cơ khí thì các DN bó tay.
Bên cạnh đó thời gian qua do chính sách thắt chặt tín dụng nên nhiều doanh nghiệp cơ khí muốn tiếp cận vốn ngân hàng không được đã phải tìm đến các kênh tín dụng khác với lãi suất cao hơn. Điều này đương nhiên đẩy chi phí lên, đồng nghĩa với rủi ro cao, đưa doanh nghiệp đến nguy cơ phá sản.
Mịt mù tương lai vì tắc đầu ra
Thiếu đầu ra cũng là nguyên nhân quan trọng khiến hàng tồn kho tăng và gây ra khó khăn cho sản xuất. Nhà nước cắt giảm đầu tư công, nhiều thị trường trầm lắng khiến cho máy móc sản xuất ra không bán được phải chất đống trong kho thì doanh nghiệp cơ khí làm sao có thể tránh khỏi tình trạng đình trệ sản xuất, phá sản...
Hiệp hội doanh nghiệp Cơ khí cho biết, một nguyên nhân quan trọng nữa khiến cho doanh nghiệp cơ khí trong nước không có đầu ra là các chính sách làm cho họ luôn bị thua ngay trên sân nhà. Hiện nay, do quy định của Luật Đấu thầu chưa chặt chẽ, dẫn tới các doanh nghiệp trong nước khó cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, bởi trong đấu thầu không tính tới nguồn gốc xuất xứ, không tính tới tỷ lệ nội địa hoá của thiết bị...
Ông Thụ cho biết, Luật Đấu thầu được ban hành năm 2005 đang "bó chân bó tay" chính doanh nghiệp Việt Nam khi chỉ chú trọng đến yếu tố giá mà không tính đến nguồn gốc xuất xứ và tỷ lệ nội địa hóa. Do vậy, doanh nghiệp cơ khí nội địa luôn bị thua doanh nghiệp nước ngoài ngay trên sân nhà.
Theo ông Thụ trên thực tế nhiều công trình sử dụng nguồn vốn nhà nước nhưng vẫn sử dụng các thiết bị nhập khẩu từ nước ngoài. Hiệp hội đã kiến nghị 7 năm nay nhưng Luật Đấu thầu vẫn không được sửa đổi.
Việc tách nhỏ các gói thầu cũng vậy. Chỉ tách nhỏ gói thầu thì các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam mới có đủ năng lực và cơ hội tham gia. Nhưng điều này đến nay cũng rất khó. Tháng 3/2011 vừa qua, Hiệp hội đã kiến nghị lên Chính phủ về chủ trương nội địa hóa dự án nhiệt điện trên cơ sở tách ra làm 10 gói thầu cơ khí để doanh nghiệp trong nước có thể tham gia. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã có chỉ đạo nhưng cho đến nay doanh nghiệp vẫn không có chính sách cụ thể để triển khai, ông Thụ bức xúc.
Bà Phạm Thị Thu Hà, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho rằng, một số chính sách hỗ trợ sản xuất và thuế đối với sản xuất cơ khí trong nước so với nhập khẩu có sự chênh lệch, khiến giá sản xuất trong nước bị đẩy lên cao hơn.
Ngành dầu khí đóng được giàn khoan tự nâng. Đối với sản phẩm này, nếu nhập khẩu toàn bộ có mức thuế bằng 0%. Tuy nhiên, khi trong nước chưa sản xuất được toàn bộ, nhà sản xuất phải nhập khẩu một số phụ tùng lại phải chịu thuế. Bất cập này làm đội giá thành và khó cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của nước ngoài.
Ông Nguyễn Văn Thụ cho rằng, ngành cơ khí Việt Nam đang tụt hậu khá xa so với các nước trong khu vực. Hiện 80% thị trường cơ khí trong nước thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài. Nhiều dự án tổng thầu xây dựng nhà máy, công trình quốc gia, doanh nghiệp cơ khí Việt Nam đều thua các nhà thầu ngoại.
Vẫn theo ông Thụ, trong 10 năm tới, Việt Nam có kế hoạch xây dựng gần 100 nhà máy nhiệt điện, đây là cơ hội lớn cho ngành cơ khí Việt Nam. Tuy nhiên các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam có giành được phần việc này không thì chưa ai dám chắc.
Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn tới 2020 đề ra mục tiêu cơ khí trong nước sẽ tự sản xuất được khoảng 100 tỷ đến 125 tỷ USD tiền hàng. Đây là thị trường rất lớn nhưng với thực trạng hiện nay điều đó khó trở thành hiện thực.
Việt Nam được 22 doanh nghiệp ICT Malaysia đầu tư
Theo
đó, diễn đàn được tổ chức tại QTSC vào ngày 24/5 tới với hai phần nội
dung chính: giới thiệu tiềm năng, cơ hội kinh doanh về CNTT tại thị
trường Việt Nam; đồng thời phía Malaysia sẽ chia sẻ kinh nghiệm triển
khai chương trình Chính phủ điện tử. Phần hai sẽ là chương trình giao lưu, hợp tác kinh doanh giữa 27 DN Malaysia với gần 30 DN Việt Nam.
Đây
sẽ là dịp để các DN Việt Nam xúc tiến, tìm kiếm cơ hội giao thương
với DN Malaysia trong nhiều lĩnh vực như: Chính phủ điện tử; thương mại
điện tử; các dịch vụ trên nền tảng điện toán đám mây; ứng dụng trên di
động; những giải pháp quản lý trong giao thông, tài chính, y tế… Đáng
chú ý, phía Malaysia sẽ giới thiệu, tư vấn các chính sách hỗ trợ cho DN
Việt Nam khi muốn mở rộng hoạt động kinh doanh ngành CNTT tại thị
trường Malaysia. Bên lề "Diễn đàn CNTT Việt Nam - Malaysia", các DN Malaysia cũng đến thăm và làm việc trực tiếp tại Tập đoàn VNPT và SPT.
Theo
ông Ahmad Shanizam Ab.Ghani, Tham tán Thương mại, thương vụ Malaysia,
tính đến tháng 2/2012, đã có 22 DN CNTT Malaysia đầu tư vào Việt Nam với
số tiền đầu tư vào mảng CNTT khoảng 7,962 triệu USD.
Hàng vạn lao động Vinashin đi về đâu ?
Tại thời “đỉnh cao” vào năm 2009, Vinashin đã từng có tới 70.000 lao
động, gồm cả lao động thời vụ. Trước những diễn biến khó khăn của
Vinashin, từ năm 2010, số lao động thời vụ đã chủ động nghỉ, chuyển
việc. Do đó số lao động của Vinashin trước khi thực hiện tái cơ cấu chỉ
còn khoảng 53.000 người. Được biết, khi thực hiện Quyết định số
926/QĐ-TTg ngày 18.6.2010 của Thủ tướng Chính phủ chuyển giao một số DN,
dự án về Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam và TCty Hàng hải Việt Nam,
lao động bình quân năm 2010 là 46.532 người và năm 2011 chỉ còn là
36.402 người.
Đến ngày 31.12.2012, tổng số lao động của Vinashin còn khoảng
28.500 người, trong đó có khoảng 74,3% số lao động có việc làm. Còn tại
thời điểm 31.8.2013, Vinashin chỉ còn 25.306 người, trong đó số lao
động có việc làm là 17.367 người, chiếm 68,63%.
Còn theo thông tin từ phía lãnh đạo Vinashin, tính đến thời điểm 31.7.2013, số lao động của tập đoàn còn lại 26.242 người. Trong đó có hơn 8.000 người (chiếm 30%) không có việc làm. Để giải quyết vấn đề này, Vinashin đã xây dựng phương án tái cơ cấu lao động và chỉ giữ lại khoảng 8.000 người, cắt giảm và giải quyết chế độ cho gần 14.000 người theo 2 giai đoạn, trong đó, sẽ cắt giảm ngay 8.000 người không có việc làm, sau đó tiếp tục cắt giảm cùng quá trình tái cơ cấu DN. Tuy nhiên, ngay cả việc cắt giảm lao động không có việc làm cũng không đơn giản, bởi các đơn vị của tập đoàn không có tiền để nộp BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động, nên không thể chi trả tiền lương còn nợ và chốt sổ BHXH trả cho lao động trước khi nghỉ việc.
Còn theo Vụ Quản lý DN của Bộ GTVT thì trong quá trình tái cơ cấu DN, Vinashin và các DN thành viên đã chủ động giải quyết chế độ, chính sách cho người lao động phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.
Còn theo thông tin từ phía lãnh đạo Vinashin, tính đến thời điểm 31.7.2013, số lao động của tập đoàn còn lại 26.242 người. Trong đó có hơn 8.000 người (chiếm 30%) không có việc làm. Để giải quyết vấn đề này, Vinashin đã xây dựng phương án tái cơ cấu lao động và chỉ giữ lại khoảng 8.000 người, cắt giảm và giải quyết chế độ cho gần 14.000 người theo 2 giai đoạn, trong đó, sẽ cắt giảm ngay 8.000 người không có việc làm, sau đó tiếp tục cắt giảm cùng quá trình tái cơ cấu DN. Tuy nhiên, ngay cả việc cắt giảm lao động không có việc làm cũng không đơn giản, bởi các đơn vị của tập đoàn không có tiền để nộp BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động, nên không thể chi trả tiền lương còn nợ và chốt sổ BHXH trả cho lao động trước khi nghỉ việc.
Còn theo Vụ Quản lý DN của Bộ GTVT thì trong quá trình tái cơ cấu DN, Vinashin và các DN thành viên đã chủ động giải quyết chế độ, chính sách cho người lao động phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.
Theo đó, Vinashin đã căn cứ vào Nghị định số 91/2010/NĐ-CP ngày
20.8.2010 của Chính phủ quy định chính sách đối với người lao động dôi
dư khi sắp xếp lại Cty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu, và quy định
của Bộ luật Lao động để giải quyết chế độ, chính sách cho người lao
động. Trong trường hợp các DN chưa có nguồn để chi trả cho người lao
động, Vinashin tạm thời được sử dụng số vốn sản xuất kinh doanh để trả
trợ cấp thôi việc, mất việc làm theo lộ trình cắt giảm lao động. Trên
cơ sở thực tế chi trả trợ cấp cho người lao động thuộc tập đoàn, được
Bộ Giao thông Vận tải thẩm định, Bộ Tài chính thẩm tra, báo cáo Thủ
tướng Chính phủ quyết định cấp từ quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển DN,
đồng thời quyết toán cho tập đoàn theo quy định. Sau này, Vinashin sẽ
sử dụng nguồn thu trong quá trình tái cơ cấu DN để hoàn trả Chính phủ.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa đi tìm hướng đi
Theo
ước tính, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở nước ta chiếm khoảng 97%
tổng số DN đăng ký thành lập, thu hút trên 50% lao động xã hội và đóng
góp tới 40% cho GDP cả nước. Số liệu thống kê của Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy, hiện nay chỉ có hơn 6% DNNVV hoạt
động kinh doanh đã diễn ra như mong muốn, hơn 19% hòa vốn và gần 22%
bị thua lỗ.
Mặc dù Nhà nước đã có nhiều chính sách về DNNVV được ban hành nhưng tại các đô thị của nhiều tỉnh, thành những hạn chế, thiếu sót trong hoạt động quản trị địa phương đối với DNNVV vẫn đang tạo ra những cản trở đối với việc phát triển của các DNNVV.
Vậy nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là từ đâu? Trước bối cảnh nền kinh tế đang có nhiều biến động và khó khăn, các DNNVV phải đối mặt với nhiều thách thức và rủi ro do thiếu vốn, nguồn nhân lực hạn chế, chi phí đầu vào tăng cao, sức mua giảm, chính sách thay đổi… Theo TS. Hà Quang Ngọc - Phó Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ, khó khăn lớn nhất đối với các DNNVV tại các địa phương là việc tiếp cận vốn và việc tiếp cận thông tin dẫn tới khó thiết lập và mở rộng hợp tác với các DN lớn và DN nước ngoài. Một phần nguyên nhân của vấn đề này do một số chính sách của Trung ương hỗ trợ DN triển khai tại địa phương còn chậm, việc ban hành và công khai các quy hoạch triển khai còn chưa kịp thời.
Tại nhiều địa phương, sự phối hợp giữa các cấp, ngành trong công tác nắm tình hình, theo dõi, quản lý hoạt động và phối hợp kiểm tra, giải quyết khó khăn vướng mắc cho DN trong quá trình hoạt động còn hạn chế, bất cập. Một số cơ chế, chính sách do địa phương ban hành vẫn chưa thật sự đủ mạnh và đóng vai trò làm đòn bẩy kích thích, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân và DNNVV phát triển....
Những hạn chế trên trong vấn đề quản trị địa phương khiến cho các DNNVV vốn đã yếu thế về quy mô và tiềm lực tài chính cứ mãi loay hoay tìm đường phát triển và khó ổn định, hạn chế sự phát triển kinh tế của địa phương.
Tăng cường quản trị địa phương- chìa khóa thành công
Việc tăng cường quản trị địa phương để hỗ trợ hoạt động cho các DN sẽ là một động lực lớn giúp các DN phát triển. Chia sẻ vấn đề này, GS.TS Nguyễn Lân- nguyên Tổng Thư ký Hiệp hội các đô thị Việt Nam- cho biết: Tăng cường quản trị địa phương không phải là cải cách chính quyền đô thị mà tập trung vào việc tăng cường quản trị nhằm cải thiện môi trường thuận lợi cho việc hỗ trợ các DNNVV ở các đô thị điểm phát triển, để qua đó thúc đẩy kinh tế của các đô thị phát triển.
Ông Phạm Hoàng Tiến- Phó giám đốc Trung tâm Hỗ trợ DNVVN của VCCI- cũng cho rằng, để cải thiện môi trường kinh doanh thuận lợi thì chính quyền địa phương cần nhanh chóng tập trung vào việc cắt giảm chi tiêu công, sớm thanh toán các khoản nợ đối với DN, đồng thời có các biện pháp củng cố hệ thống quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương và đa dạng hóa các hình thức thế chấp, tín chấp, tạo điều kiện cho các DNNVV được nhanh chóng tiếp cận nguồn vốn.
Ông Tiến đề xuất, trong quản trị, các địa phương cần tiếp tục nâng cao chất lượng công tác giải quyết thủ tục hành chính cho DN, tạo sự công bằng cho DN trong tiếp cận, giải quyết thủ tục hành chính từ đó tạo ra cơ hội, sức cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng thúc đẩy phát triển DN.
Bên cạnh đó, chính quyền địa phương nên khuyến khích tổ chức gặp gỡ, đối thoại với doanh nhân, DN để tiếp cận, tìm hiểu, giải đáp, tháo gỡ và kịp thời đề xuất cấp có thẩm quyền các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho DN. Đồng thời, xây dựng giá đất hàng năm phù hợp với thị trường và từng vùng tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thực hiện bồi thường, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án đầu tư và cho DN thuê...
Mặc dù Nhà nước đã có nhiều chính sách về DNNVV được ban hành nhưng tại các đô thị của nhiều tỉnh, thành những hạn chế, thiếu sót trong hoạt động quản trị địa phương đối với DNNVV vẫn đang tạo ra những cản trở đối với việc phát triển của các DNNVV.
Vậy nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là từ đâu? Trước bối cảnh nền kinh tế đang có nhiều biến động và khó khăn, các DNNVV phải đối mặt với nhiều thách thức và rủi ro do thiếu vốn, nguồn nhân lực hạn chế, chi phí đầu vào tăng cao, sức mua giảm, chính sách thay đổi… Theo TS. Hà Quang Ngọc - Phó Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ, khó khăn lớn nhất đối với các DNNVV tại các địa phương là việc tiếp cận vốn và việc tiếp cận thông tin dẫn tới khó thiết lập và mở rộng hợp tác với các DN lớn và DN nước ngoài. Một phần nguyên nhân của vấn đề này do một số chính sách của Trung ương hỗ trợ DN triển khai tại địa phương còn chậm, việc ban hành và công khai các quy hoạch triển khai còn chưa kịp thời.
Tại nhiều địa phương, sự phối hợp giữa các cấp, ngành trong công tác nắm tình hình, theo dõi, quản lý hoạt động và phối hợp kiểm tra, giải quyết khó khăn vướng mắc cho DN trong quá trình hoạt động còn hạn chế, bất cập. Một số cơ chế, chính sách do địa phương ban hành vẫn chưa thật sự đủ mạnh và đóng vai trò làm đòn bẩy kích thích, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân và DNNVV phát triển....
Những hạn chế trên trong vấn đề quản trị địa phương khiến cho các DNNVV vốn đã yếu thế về quy mô và tiềm lực tài chính cứ mãi loay hoay tìm đường phát triển và khó ổn định, hạn chế sự phát triển kinh tế của địa phương.
Tăng cường quản trị địa phương- chìa khóa thành công
Việc tăng cường quản trị địa phương để hỗ trợ hoạt động cho các DN sẽ là một động lực lớn giúp các DN phát triển. Chia sẻ vấn đề này, GS.TS Nguyễn Lân- nguyên Tổng Thư ký Hiệp hội các đô thị Việt Nam- cho biết: Tăng cường quản trị địa phương không phải là cải cách chính quyền đô thị mà tập trung vào việc tăng cường quản trị nhằm cải thiện môi trường thuận lợi cho việc hỗ trợ các DNNVV ở các đô thị điểm phát triển, để qua đó thúc đẩy kinh tế của các đô thị phát triển.
Ông Phạm Hoàng Tiến- Phó giám đốc Trung tâm Hỗ trợ DNVVN của VCCI- cũng cho rằng, để cải thiện môi trường kinh doanh thuận lợi thì chính quyền địa phương cần nhanh chóng tập trung vào việc cắt giảm chi tiêu công, sớm thanh toán các khoản nợ đối với DN, đồng thời có các biện pháp củng cố hệ thống quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương và đa dạng hóa các hình thức thế chấp, tín chấp, tạo điều kiện cho các DNNVV được nhanh chóng tiếp cận nguồn vốn.
Ông Tiến đề xuất, trong quản trị, các địa phương cần tiếp tục nâng cao chất lượng công tác giải quyết thủ tục hành chính cho DN, tạo sự công bằng cho DN trong tiếp cận, giải quyết thủ tục hành chính từ đó tạo ra cơ hội, sức cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng thúc đẩy phát triển DN.
Bên cạnh đó, chính quyền địa phương nên khuyến khích tổ chức gặp gỡ, đối thoại với doanh nhân, DN để tiếp cận, tìm hiểu, giải đáp, tháo gỡ và kịp thời đề xuất cấp có thẩm quyền các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho DN. Đồng thời, xây dựng giá đất hàng năm phù hợp với thị trường và từng vùng tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thực hiện bồi thường, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án đầu tư và cho DN thuê...
Tinh giảm danh nghiệp ngành thép
Hiện
1/3 nhân công của MT (khoảng 98.000 người) đang làm việc tại châu Âu,
nơi tập đoàn này cung cấp nguyên liệu cho ngành sản xuất ô tô, đang lo
lắng thất nghiệp bởi kể từ năm 2007 cho đến nay nhu cầu sử dụng thép
tại châu lục này đã giảm khoảng 30%, riêng năm 2012 giảm 9%, đã ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động của MT. Có thể nói, thua lỗ là câu chuyện
của ngành thép trên toàn thế giới chứ không riêng gì Việt Nam, nhưng
nguyên nhân dẫn đến thua lỗ lại có nhiều sự khác biệt.
2
năm trước, tại đại hội cổ đông của một doanh nghiệp sản xuất tôn, ông
chủ tịch HĐQT đã rất mạnh miệng nói rằng khi giá thép về đáy các đơn vị
bán đổ bán tháo thì ông mua vào, chờ giá lên đỉnh bán ra. Năm nay đỉnh
của giá thép khoảng 600USD/tấn, còn đáy 500USD/tấn, có nghĩa nếu mua
đáy bán đỉnh có thể lãi khoảng 20%.
Từ
năm 2005 trở về trước, việc doanh nghiệp thép gia tăng tồn kho tại mức
giá thấp, sau đó chờ giá lên để bán đã rất thành công, bất kể đó là
doanh nghiệp sản xuất hay thương mại. Lý do, những đợt tăng giảm của
giá thép diễn ra trong thời gian dài, nên khi đã tăng là tăng mạnh, lãi
lớn.
Ứng dụng công nghệ cơ khí chế tạo mới vào lắp máy
Qua 5 năm thực hiện, nhiều nhiệm vụ
KH-CN đã được Ban chủ nhiệm tuyển chọn, đề xuất đưa vào chương trình
như: nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các thiết bị cho Nhà máy nhiệt điện
600MW; trạm thủy điện 20MW; nhà máy xi măng 1 triệu tấn/năm; tàu chở dầu
100 ngàn tấn…
Hầu hết các sản phẩm của đề tài, dự án
trong chương trình là sản phẩm mới có tính năng kỹ thuật, kiểu dáng và
đều có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các nước trong
khu vực như: máy vớt bèo, cắt rong, cỏ dại dưới nước; máy CNC sản xuất
bê tông cốt thép kích thước lớn; hệ thống thiết bị sản xuất các tinh
dầu, dầu gia vị; xe cần cẩu bánh xích 100 tấn; hệ thống thiết bị hàn tự
động nối ống có đường kính lớn ở trạng thái không quay; máy cắt vật liệu
cứng bằng tia nước áp lực cao điều khiển CNC; máy đo tọa độ 3D; máy dập
cắt vật liệu điều khiển CNC trong ngành giầy dép...
Bên cạnh đó, chỉ tiêu về sở hữu trí tuệ,
cho đến nay, 12% nhiệm vụ có giải pháp được công nhận sáng chế hoặc
giải pháp hữu ích, 19% số nhiệm vụ đã được chấp nhận đơn yêu cầu bảo hộ
sở hữu công nghiệp. Chỉ tiêu về đào tạo: 50% số dự án, đề tài có tham
gia đào tạo tiến sỹ hoặc thạc sỹ.
Nhìn chung, mặc dù còn 4 dự án, đề tài
mới nghiệm thu cấp cơ sở và gần một nửa tổng số đề tài chưa kết thúc
nhưng so với giai đoạn 2001 - 2005 thì các nhiệm vụ KH-CN của giai đoạn
2006 - 2010 có độ phức tạp và yêu cầu về trình độ KH-CN đòi hỏi cao hơn,
vì vậy có 4 đề tài phải xin dừng thực hiện. Các đề tài còn lại đều hứa
hẹn có kết quả tốt cả về giá trị KH-CN lẫn giá trị kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, tỷ lệ số dự án/tổng số đề
tài-dự án của Chương trình KC.05.06-10 trong giai đoạn 2006 - 2010
(06/26; 23%) ít hơn Chương trình KC.05 của giai đoạn 2001 - 2005 (14/43;
33%). Nguyên nhân là do giai đoạn 2006 - 2010 đòi hỏi vốn đối ứng và
các điều kiện tài chính ngặt nghèo hơn. Mặt khác, các doanh nghiệp cũng
không thiết tha chủ trì các dự án sản xuất vì độ rủi ro cao, thủ tục
tuyển chọn, đấu thầu mua sắm vật tư, thiết bị phức tạp, không đáp ứng
được nhu cầu của sản xuất và thị trường. trong khi đó, sự hỗ trợ của Nhà
nước không đáng kể (hỗ trợ 30% và lại thu hồi 80% kinh phí cấp thực
hiện).
Trong giai đoạn 2011 - 2020, cơ khí chế
tạo được xác định giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Để khẳng định vai trò đó, ngành cơ
khí chế tạo Việt Nam cần phải tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng KH-CN đảm
bảo cho phát triển nhanh, bền vững.
Tập trung phát triển nguồn nhân lực
KH-CN trình độ cao, kiến thức hiện đại cho ngành cơ khí chế tạo Việt Nam
bằng cách Nhà nước cử sinh viên, nghiên cứu sinh, công nhân kỹ thuật đi
học nước ngoài một cách đồng bộ. Hỗ trợ doanh nghiệp kinh phí đào tạo
đối với các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm mới. Tăng cường tiềm lực
nghiên cứu phát triển (R&D) cho các doanh nghiệp cơ khí.
Đẩy mạnh xã hội hóa trong đầu tư sản
xuất và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực cơ khí chế tạo máy; tạo điều
kiện cho các hội KH-CN ngành nghề có kinh phí để thẩm định thông tin,
giúp đỡ, hoàn thiện các sáng kiến, sáng chế của nông dân, công nhân;
khuyến khích các doanh nghiệp chủ trì các dự án sản xuất. Đẩy nhanh quá
trình “tích tụ vốn” đối với doanh nghiệp cơ khí chế tạo Việt Nam; kết
hợp chặt chẽ, hiệu quả cơ sở sản xuất, cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu
trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH-CN ngành cơ khí chế tạo.
Hướng mới sản xuất gang, thép tiết kiệm
Do nguyên liệu chủ yếu để sản xuất gang
là than và điện, cho nên nhà máy đã sử dụng một loạt giải pháp nhằm sử
dụng nguồn năng lượng này sao cho hiệu quả và tiết kiệm nhất bằng cách
chuyển đổi dòng điện 210 KW sang 207 KW nhằm hạn chế lãng phí điện năng
do mất điện đột ngột.
Với đặc trưng là một ngành tiêu tốn nhiều năng lượng, việc áp dụng những giải pháp công nghệ đồng bộ để sử dụng năng lượng hiệu quả đã được Nhà máy luyện gang thuộc Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên ứng dụng và thu được những kết quả đáng ghi nhận.
Với đặc trưng là một ngành tiêu tốn nhiều năng lượng, việc áp dụng những giải pháp công nghệ đồng bộ để sử dụng năng lượng hiệu quả đã được Nhà máy luyện gang thuộc Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên ứng dụng và thu được những kết quả đáng ghi nhận.
Đội ngũ cán bộ kỹ thuật thường xuyên bám
sát tình hình sản xuất, kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu đầu vào để
có chế độ vận hành hợp lý, giữ cho lò luyện hoạt động ổn định, kéo dài
tuổi thọ của lò, đồng thời sử dụng hiệu quả nhất nguồn nguyên nhiên liệu
đầu vào.
Do nguyên liệu chủ yếu để sản xuất gang
là than và điện, cho nên nhà máy đã sử dụng một loạt giải pháp nhằm sử
dụng nguồn năng lượng này sao cho hiệu quả và tiết kiệm nhất bằng cách
chuyển đổi dòng điện 210 KW sang 207 KW nhằm hạn chế lãng phí điện năng
do mất điện đột ngột. Bên cạnh đó, do mỗi lần khởi động lại lò cao sẽ
tốn rất nhiều năng lượng so với lò đang hoạt động nên nhà máy đã hạn chế
tối đa thời gian máy ngừng và thời gian chạy không tải. Đồng thời, hệ
thống đèn sợi đốt cũ không tiết kiệm điện đã được nhà máy thay bằng hệ
thống đèn compact tiết kiệm điện.
Không chỉ thực hiện các giải pháp nhằm
tiết kiệm điện năng, nhà máy còn thực hiện một loạt giải pháp nhằm tiết
kiệm nguyên liệu trong quá trình sản xuất. Cụ thể, bằng phương pháp pha
vôi bột thay thế một phần đá vôi trong phối liệu thiêu kết để nâng cao
năng suất và chất lượng quặng thiêu kết, tỷ lệ quặng tinh đã tăng từ
10-30% và tỷ lệ quặng Limonit cũng tăng từ 20-25%.
Bên cạnh đó, để giảm tiêu hao than cốc,
nhà máy đã cho tăng nhiệt độ gió nóng trong lò từ 7.800C lên
9000-10.000C. Do đó, lượng tiêu hao than cốc đã giảm 0,5%. Đặc biệt, nhà
máy đã đầu tư lắp đặt dây chuyền vê viên quặng cho thiêu kết, năng suất
15-20 tấn/giờ, giúp tăng tỷ lệ quặng tinh lên hơn 30% trong phối liệu
thiêu kết đồng thời, lắp đặt dây chuyền nghiền quặng công suất 50 tấn/h
để nghiền quặng cỡ hạt 10-15 mm xuống cỡ hạt 0-8 mm làm nguyên liệu cho
sản xuất quặng thiêu kết, vừa tiết kiệm nguyên liệu, vừa nâng cao chất
lượng sản phẩm.
Phương pháp mới bề mặt kim loại
Một số viện nghiên cứu và DN đã tiến
hành phục hồi bằng nhiệt khí. Tuy nhiên, do hạn chế về công nghệ nên họ
chủ yếu phục hồi cho các chi tiết có yêu cầu công nghệ không cao. Để
khắc phục những hạn chế đó, Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội đã thực
hiện đề tài “Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong xử lý bề mặt kim loại để
phục hồi một số chi tiết máy bị mòn có dạng trục, dạng vỏ tròn xoay”.
Sau khi nghiên cứu các phương pháp phun,
nhóm tác giả đã lựa chọn phương pháp phun nổ. Đây là phương pháp có
nhiều ưu điểm nổi trội như tiết kiệm vật liệu; gọn nhẹ, dễ di chuyển, dễ
làm việc tại công trường; có nhiều vật liệu phun khác nhau trên nhiều
nền khác nhau, vừa có thể sử dụng chế tạo mới, vừa có thể sử dụng để
phục hồi các chi tiết. Đối với những trục cam làm bằng thép hợp kim độ
bền cao, yêu cầu chịu mài mòn lớn, sử dụng phun phủ nhiệt khí thông
thường, không đáp ứng được yêu cầu trong khi phun nổ, có thể đáp ứng các
yếu tố kỹ thuật như: Lớp phủ lên bề mặt có độ bám dính tốt với mặt nền,
độ xốp có thể chấp nhận được, mức chi phí đầu tư trung bình. Phun nổ có
thể sử dụng để phun các loại hợp kim bột, chịu nhiệt, chịu mài mòn.
Bằng phương pháp sử dụng quy hoạch thực nghiệm, nhóm tác giả thực hiện
đề tài đã xác định phạm vi tối ưu cho các thông số công nghệ (tốc độ
phun, lưu lượng phun, khoảng cách phun). Với tốc độ phun trên 100 m/s;
lưu lượng phun trên 500g/s; khoảng cách phun từ 300 - 500 mm sẽ cho chất
lượng phun tốt nhất, các tiêu chí đánh giá chất lượng bề mặt kim loại
sau phun bao gồm: độ cứng, độ xốp, độ bám dính cơ học, tổ chức tế vi của
lớp phủ đều đạt yêu cầu.
Đề tài không những có ý nghĩa về kỹ
thuật, đáp ứng nhu cầu bức thiết trong việc sửa chữa, phục hồi những chi
tiết máy bị mài mòn mà còn đem lại hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm
ngoại tệ cho quốc gia. Hiện nay, hầu hết thiết bị máy móc quan trọng đều
phải nhập khẩu, đặc biệt là trong ngành cơ khí chính xác và công nghệ
cao. Những thiết bị mua mới và nhập ngoại này rất tốn kém. Theo kết quả
điều tra khảo sát của đề tài, giá mua trục cam mới hiện nay vào khoảng
3.000 USD. Trong khi đó, tổng chi phí phục hồi chỉ hơn 13 triệu đồng
(bằng 1/4 so với giá mua mới). Bên cạnh đó, công nghệ này tạo ra bước
đột phá mới về ứng dụng công nghệ phun phủ kim loại ở Việt Nam trong
việc phục hồi sửa chữa những máy móc thiết bị có trình độ công nghệ cao;
có khả năng nhân rộng cho các DN, nhà máy trong nước.
Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014
VNACCS/VCIS điểm sáng trong thông quan hàng hóa
Thông quan một lô hàng trong vài giây
VNACCS/VCIS là dự án do Chính phủ Nhật Bản viện trợ Việt Nam, đang được gấp rút hoàn thiện và sẽ được vận hành vào cuối quý I-2014. Khi áp dụng trong thực tế, hệ thống VNACCS/ VCIS sẽ thay đổi căn bản phương thức quản lý của hải quan Việt Nam. Lúc đó, thủ tục hải quan sẽ được thực hiện tự động hóa ở cấp độ cao dựa trên ứng dụng các phần mềm điện tử, cho phép nâng cao hiệu quả quản lý và tạo thuận lợi cho người dân và DN gấp nhiều lần so với hiện nay. Việc áp dụng VNACCS/VCIS cũng là bước tiến quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm soát và thông quan hàng hóa. Trên thực tế, hiện cả nước đã có gần 40.000 DN tham gia thực hiện thủ tục hải quan điện tử (TTHQĐT). Khi hệ thống VNACCS/VCIS vận hành thành công, cộng đồng DN sẽ được thụ hưởng nhiều lợi ích vượt trội so với TTHQĐT hiện nay, như thời gian thông quan nhanh hơn, độ chính xác cao hơn và ổn định cao hơn. Việc vận hành hệ thống VNACCS/VCIS cho phép thông quan một lô hàng trong vài giây, thay cho thời gian 5-15 phút với một lô hàng thực hiện TTHQĐT như hiện nay. Trên thực tế tại Nhật Bản, hiện có tới 98% lượng tờ khai xuất nhập khẩu được xử lý qua hệ thống VNACCS/ VCIS. Trung bình mỗi năm, Nhật Bản xử lý 30-40 triệu bộ tờ khai hải quan thông qua hệ thống này.
Tuy nhiên, để hệ thống VNACCS/VCIS vận hành hiệu quả, bên cạnh sự nỗ lực của toàn ngành hải quan, rất cần sự hưởng ứng của cộng đồng DN. Hiện nay, Hải quan Việt Nam đã vào chặng tăng tốc, triển khai tập huấn ứng dụng VNACCS/VCIS đến các đơn vị trực thuộc cũng như tới cộng đồng DN. TCHQ đề nghị các DN tích cực tham gia vào giai đoạn chạy thử VNACCS/VCIS. Mọi thông tin hướng dẫn chi tiết được đăng tại website của TCHQ http://www.customs.gov.vn. Để việc chạy thử VNACCS/VCIS đạt hiệu quả cao, TCHQ đề nghị DN phối hợp thực hiện và chuẩn bị tốt 4 bước: Cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo chi tiết về quy trình, nghiệp vụ sử dụng trong hệ thống VNACCS/VCIS do các Cục Hải quan tỉnh, TP tổ chức trong thời gian từ nay hết tháng 11-2013; chuẩn bị điều kiện kỹ thuật, hoàn thành đăng ký chữ ký số trước ngày 31-10-2013 (theo quy định tại Nghị định 87/2012/CP hướng dẫn về TTHQĐT; hoàn thành cài đặt phần mềm trước ngày 5-11-2013 theo 2 cách: DN tự tải và cài đặt miễn phí tại: http://www.customs.gov.vn, hoặc sử dụng phần mềm của công ty tin học được TCHQ xác nhận. Cuối cùng, DN cần chuẩn bị dữ liệu, hồ sơ khai hải quan xong trước ngày 10-11-2013 và phối hợp với cơ quan hải quan thực hiện VNACCS/VCIS.
Chuẩn bị nguồn nhân lực
Tại hội nghị tập huấn công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ triển khai hệ thống VNACCS/ VCIS do TCHQ tổ chức trung tuần tháng 10 vừa qua tại Đồng Nai, hơn 200 đại biểu đến từ các Cục Hải quan tỉnh, TP và những DN đối tác với ngành hải quan trong lĩnh vực CNTT đã cùng trao đổi về việc này. Theo ý kiến của các đại biểu, CNTT hiện đóng vai trò hạt nhân và là động lực của tiến trình cải cách, hiện đại hóa hải quan, vì vậy trách nhiệm của cán bộ, công chức hải quan tới đây sẽ rất nặng nề. Từ nay đến khi đưa hệ thống VNACCS/VCIS vào hoạt động chính thức, khối lượng công việc cần chuẩn bị rất lớn. Bên cạnh việc đào tạo cho người sử dụng, tổ chức chạy thử hệ thống, hoàn thiện việc chuyển đổi dữ liệu, hoàn thiện cơ sở pháp lý… ngành hải quan vẫn phải duy trì việc vận hành hệ thống thông quan điện tử, nâng cấp các hệ thống thông tin hiện có để bảo đảm hoạt động đồng bộ với hệ thống VNACCS/VCIS.
Từ nay đến quý I-2014, một trong những nhiệm vụ mà ngành hải quan phải thực hiện là phổ biến và hướng dẫn DN hoạt động xuất nhập khẩu đăng ký sử dụng chữ ký số theo quy định của Bộ Tài chính. Tiếp đó, ngành sẽ tập trung hoàn thiện hệ thống VNACCS/VCIS, nâng cấp đồng bộ các hệ thống khác có liên quan, hoàn thành việc đào tạo cho cán bộ, công chức hải quan và DN sử dụng hệ thống... Đại diện TCHQ cho biết, việc vận hành thành công hệ thống VNACCS/VCIS không chỉ tạo bước đột phá lớn trong tiến trình cải cách, hiện đại hóa hải quan, mà còn tạo ra những lợi ích thiết thực cho cộng đồng DN. Đây cũng là bước cải cách cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
VNACCS/VCIS là dự án do Chính phủ Nhật Bản viện trợ Việt Nam, đang được gấp rút hoàn thiện và sẽ được vận hành vào cuối quý I-2014. Khi áp dụng trong thực tế, hệ thống VNACCS/ VCIS sẽ thay đổi căn bản phương thức quản lý của hải quan Việt Nam. Lúc đó, thủ tục hải quan sẽ được thực hiện tự động hóa ở cấp độ cao dựa trên ứng dụng các phần mềm điện tử, cho phép nâng cao hiệu quả quản lý và tạo thuận lợi cho người dân và DN gấp nhiều lần so với hiện nay. Việc áp dụng VNACCS/VCIS cũng là bước tiến quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm soát và thông quan hàng hóa. Trên thực tế, hiện cả nước đã có gần 40.000 DN tham gia thực hiện thủ tục hải quan điện tử (TTHQĐT). Khi hệ thống VNACCS/VCIS vận hành thành công, cộng đồng DN sẽ được thụ hưởng nhiều lợi ích vượt trội so với TTHQĐT hiện nay, như thời gian thông quan nhanh hơn, độ chính xác cao hơn và ổn định cao hơn. Việc vận hành hệ thống VNACCS/VCIS cho phép thông quan một lô hàng trong vài giây, thay cho thời gian 5-15 phút với một lô hàng thực hiện TTHQĐT như hiện nay. Trên thực tế tại Nhật Bản, hiện có tới 98% lượng tờ khai xuất nhập khẩu được xử lý qua hệ thống VNACCS/ VCIS. Trung bình mỗi năm, Nhật Bản xử lý 30-40 triệu bộ tờ khai hải quan thông qua hệ thống này.
Tuy nhiên, để hệ thống VNACCS/VCIS vận hành hiệu quả, bên cạnh sự nỗ lực của toàn ngành hải quan, rất cần sự hưởng ứng của cộng đồng DN. Hiện nay, Hải quan Việt Nam đã vào chặng tăng tốc, triển khai tập huấn ứng dụng VNACCS/VCIS đến các đơn vị trực thuộc cũng như tới cộng đồng DN. TCHQ đề nghị các DN tích cực tham gia vào giai đoạn chạy thử VNACCS/VCIS. Mọi thông tin hướng dẫn chi tiết được đăng tại website của TCHQ http://www.customs.gov.vn. Để việc chạy thử VNACCS/VCIS đạt hiệu quả cao, TCHQ đề nghị DN phối hợp thực hiện và chuẩn bị tốt 4 bước: Cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo chi tiết về quy trình, nghiệp vụ sử dụng trong hệ thống VNACCS/VCIS do các Cục Hải quan tỉnh, TP tổ chức trong thời gian từ nay hết tháng 11-2013; chuẩn bị điều kiện kỹ thuật, hoàn thành đăng ký chữ ký số trước ngày 31-10-2013 (theo quy định tại Nghị định 87/2012/CP hướng dẫn về TTHQĐT; hoàn thành cài đặt phần mềm trước ngày 5-11-2013 theo 2 cách: DN tự tải và cài đặt miễn phí tại: http://www.customs.gov.vn, hoặc sử dụng phần mềm của công ty tin học được TCHQ xác nhận. Cuối cùng, DN cần chuẩn bị dữ liệu, hồ sơ khai hải quan xong trước ngày 10-11-2013 và phối hợp với cơ quan hải quan thực hiện VNACCS/VCIS.
Chuẩn bị nguồn nhân lực
Tại hội nghị tập huấn công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ triển khai hệ thống VNACCS/ VCIS do TCHQ tổ chức trung tuần tháng 10 vừa qua tại Đồng Nai, hơn 200 đại biểu đến từ các Cục Hải quan tỉnh, TP và những DN đối tác với ngành hải quan trong lĩnh vực CNTT đã cùng trao đổi về việc này. Theo ý kiến của các đại biểu, CNTT hiện đóng vai trò hạt nhân và là động lực của tiến trình cải cách, hiện đại hóa hải quan, vì vậy trách nhiệm của cán bộ, công chức hải quan tới đây sẽ rất nặng nề. Từ nay đến khi đưa hệ thống VNACCS/VCIS vào hoạt động chính thức, khối lượng công việc cần chuẩn bị rất lớn. Bên cạnh việc đào tạo cho người sử dụng, tổ chức chạy thử hệ thống, hoàn thiện việc chuyển đổi dữ liệu, hoàn thiện cơ sở pháp lý… ngành hải quan vẫn phải duy trì việc vận hành hệ thống thông quan điện tử, nâng cấp các hệ thống thông tin hiện có để bảo đảm hoạt động đồng bộ với hệ thống VNACCS/VCIS.
Từ nay đến quý I-2014, một trong những nhiệm vụ mà ngành hải quan phải thực hiện là phổ biến và hướng dẫn DN hoạt động xuất nhập khẩu đăng ký sử dụng chữ ký số theo quy định của Bộ Tài chính. Tiếp đó, ngành sẽ tập trung hoàn thiện hệ thống VNACCS/VCIS, nâng cấp đồng bộ các hệ thống khác có liên quan, hoàn thành việc đào tạo cho cán bộ, công chức hải quan và DN sử dụng hệ thống... Đại diện TCHQ cho biết, việc vận hành thành công hệ thống VNACCS/VCIS không chỉ tạo bước đột phá lớn trong tiến trình cải cách, hiện đại hóa hải quan, mà còn tạo ra những lợi ích thiết thực cho cộng đồng DN. Đây cũng là bước cải cách cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
“Đổi mới sáng tạo” quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp
Ngày 23/10, Bộ Khoa học
và Công nghệ phối hợp với Bộ Ngoại giao Phần Lan tổ chức Diễn đàn "Đổi
mới sáng tạo: Từ chiến lược tới thực tiễn".
Diễn đàn là kết quả của Chương trình đối tác đổi mới sáng tạo Việt
Nam-Phần Lan (IPP) sau 4 năm triển khai tại Việt Nam. Đây được coi là
cầu nối để các nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học, doanh nghiệp
hai nước chia sẻ kinh nghiệm, mở ra các hợp tác mới trong đổi mới sáng
tạo.
IPP là một trong những chương trình
hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đầu tiên thí điểm thực hiện hỗ trợ
đối với hoạt động phát triển khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Chương trình góp phần tăng cường hiệu quả mỗi liên kết giữa 3 nhà: Nhà
nghiên cứu – nhà doanh nghiệp – nhà quản lý, thúc đẩy sáng tạo, đổi mới
công nghệ, phát triển các doanh nghiệp khoa học và công nghệ mới.
Doanh nghiệp là trung tâm của quá trình đổi mới công
nghệ của đất nước và là địa chỉ để ứng dụng những kết quả
nghiên cứu của giới nghiên cứu của giới khoa học trên cả
nước. Những doanh nghiệp biết ứng dụng các tiến bộ khoa
học-công nghệ trong nước và nước ngoài để tạo ra những sản
phẩm có sức cạnh tranh sẽ thành công khi Việt Nam hội nhập quốc
tế.
Hiện nay, Bộ Khoa học và Công
nghệ đang thúc đẩy một số chính sách mới nhằm tối ưu hóa không gian đổi
mới sáng tạo cho các doanh nghiệp như Quỹ Đổi mới công nghệ sẽ đi vào
hoạt động từ đầu năm 2014; đổi mới cơ bản cơ chế tài chính như cấp phát
kinh phí nghiên cứu, đổi mới công nghệ qua các quỹ khoa học; thay đổi
định mức chi, định mức thanh quyết toán khoán chi đến sản phẩm cuối
cùng, để thuê chuyên gia, mua công nghệ, trả thù lao thiết kế.
Tại Diễn đàn, các đại biểu đã thảo luận về chiến lược đổi mới và
những thách thức với Việt Nam, việc quản lý các chương trình quốc gia,
các công cụ tài trợ đổi mới, thúc đẩy đổi mới trong khu vực, hợp tác
giữa trường đại học-doanh nghiệp, hợp tác giữa các doanh nghiệp…
Nhìn thái lan cứu ngành ôtô Việt
Các chuyên gia cho rằng, khi thuế suất dần hạ về mức 0%
thì giá xe nhập khẩu sẽ giảm mạnh so với giá bán hiện nay. Để có thể
cạnh tranh với xe nhập khẩu, xe sản xuất và láp ráp trong nước buộc phải
hạ giá thành sản phẩm. Muốn vậy, các DN sản xuất, lắp ráp phải có nguồn
linh kiện nội địa trong nước đủ mạnh để đáp ứng. Nhưng trên thực tế,
hiện nay, hầu hết linh kiện sản xuất phải nhập từ nước ngoài với giá khá
cao.
Việt Nam đã xây dựng ngành công nghiệp ô tô gần 20 năm nay, và hiện có 18 doanh nghiệp FDI, 38 doanh nghiêp trong nước tham gia sản xuất, lắp ráp với công suất 460.000 xe/năm. Nhưng điều đáng nói là ngành công nghiệp ô tô Việt Nam chỉ dừng lại ở các công đoạn đơn giản như hàn, tẩy rửa sơn và lắp ráp với tỷ lệ nội địa hóa chỉ đạt ở mức 7-10%. Chỉ có một vài doanh nghiệp đạt tỷ lệ nội địa hóa 40% ở một số dòng xe.
Theo ông Jesus Metelo Arias, Chủ tịch Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam, một trong những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển ngành công nghiệp ô tô là do chính sách thay đổi quá nhanh và quá nhiều trong khi thị trường chưa đủ lớn, ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển.
Việt Nam một mặt muốn phát triển ngành công nghiệp ô tô nhưng mặt khác lại đưa ra hàng loạt các chính sách để hạn chế sự gia tăng của phương tiện giao thông cá nhân làm hạn chế thị trường. Để lên kế hoạch sản xuất, kinh doanh cũng như đầu tư, các nhà sản xuất phải tính đến mức thời gian tối thiểu là 5 năm trong khi đó, chính sách ở Việt Nam thay đổi xoành xoạch khiến doanh nghiệp hết sức khó khăn, làm nản lòng các nhà đầu tư.
Trước thực tế của ngành sản xuất ô tô, ông Yoshihisa Maruta, Tổng giám đốc Công ty Toyota Việt Nam, cảnh báo rằng, nếu Việt Nam không có chính sách phù hợp trong giai đoạn từ nay đến năm 2025 thì cơ hội để phát triển ngành công nghiệp ô tô sẽ không còn. Và nếu Chính phủ không có chính sách đảm bảo khoảng cách về chi phí sản xuất giữa xe CKD (nhập linh kiện về lắp ráp) và CBU (nhập khẩu nguyên chiếc) thì rất khó để duy trì ngành công nghiệp ô tô.
Theo lý giải của ông Yoshihisa Maruta, năm 2018, khi thuế nhập khẩu từ ASEAN dỡ bỏ, giá xe nhập khẩu giảm sẽ giúp thị trường tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên, phải đến sau năm 2025 trở đi mới là giai đoạn phổ cập hóa ô tô ở Việt Nam thì thị trường mới thật sự bùng nổ. Vì vậy, việc áp dụng những chính sách hỗ trợ ngành là cực kỳ quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Theo ông, Việt Nam nên học tập cách làm của Thái Lan, phát triển thị trường với dung lượng phù hợp trước khi mở cửa thị trường và tiếp tục thực hiện các chính sách phát triển ngành công nghiệp ô tô khi thị trường đã mở cửa.
Bài học mà ông Yoshihisa Maruta nhắc tới là trước khi mở cửa thị trường, Thái Lan đã xây dựng một ngành ô tô đủ mạnh, trong đó, rất chú trọng đến ngành công nghệ phụ trợ. Khi quyết định xây dựng ngành công nghiệp, Chính phủ nước này đã khuyến khích các doanh nghiệp trong nước sản xuất phụ tùng để tăng khả năng cạnh tranh về giá đồng thời với việc giảm thuế cho các doanh nghiệp sản xuất.
Không chỉ vậy, Thái Lan còn đưa ra chính sách, lộ trình phát triển chắc chắn để các DN dựa vào đó mà lên kế hoạch sản xuất. Đến nay, sau 53 năm xây dựng và phát triển, Thái Lan đã đạt sản lượng 2,8 triệu xe, xuất khẩu khoảng 1 triệu chiếc và lọt vào Top 10 nước xuất khẩu ô tô hàng đầu thế giới.
Riêng về phụ tùng, mỗi năm, kim ngạch xuất khẩu của nhóm này đạt đến 5 tỷ USD, hơn tất cả những nước ASEAN cộng lại. Hiện ngành công nghiệp ô tô đã đóng góp đến 12% GDP cho nước này.
Theo ông Jesus Metelo Arias, để cứu ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, Chính phủ nên có chính sách hỗ trợ và chính sách thuế thấp hoặc bằng các nước trong khu vực. Hiện nay, chi phí sản xuất của Việt Nam cao hơn các nước khoảng 20% mà nguyên nhân chủ yếu là thuế cao (thuế nhập khẩu linh kiện, thuế thu nhập doanh nghiệp...).
Quan trọng hơn, các cơ quan của Việt Nam cần xây dựng chính sách ổn định va đảm bảo cho thị trường đồng thời với việc xây dựng các nhà cung ứng có thể tham gia vao chuỗi cung ứng toàn cầu. Có như vậy, sản xuất trong nước mới đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và ngành công nghiệp ô tô mới phát triển.
Việt Nam đã xây dựng ngành công nghiệp ô tô gần 20 năm nay, và hiện có 18 doanh nghiệp FDI, 38 doanh nghiêp trong nước tham gia sản xuất, lắp ráp với công suất 460.000 xe/năm. Nhưng điều đáng nói là ngành công nghiệp ô tô Việt Nam chỉ dừng lại ở các công đoạn đơn giản như hàn, tẩy rửa sơn và lắp ráp với tỷ lệ nội địa hóa chỉ đạt ở mức 7-10%. Chỉ có một vài doanh nghiệp đạt tỷ lệ nội địa hóa 40% ở một số dòng xe.
Theo ông Jesus Metelo Arias, Chủ tịch Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam, một trong những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển ngành công nghiệp ô tô là do chính sách thay đổi quá nhanh và quá nhiều trong khi thị trường chưa đủ lớn, ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển.
Việt Nam một mặt muốn phát triển ngành công nghiệp ô tô nhưng mặt khác lại đưa ra hàng loạt các chính sách để hạn chế sự gia tăng của phương tiện giao thông cá nhân làm hạn chế thị trường. Để lên kế hoạch sản xuất, kinh doanh cũng như đầu tư, các nhà sản xuất phải tính đến mức thời gian tối thiểu là 5 năm trong khi đó, chính sách ở Việt Nam thay đổi xoành xoạch khiến doanh nghiệp hết sức khó khăn, làm nản lòng các nhà đầu tư.
Trước thực tế của ngành sản xuất ô tô, ông Yoshihisa Maruta, Tổng giám đốc Công ty Toyota Việt Nam, cảnh báo rằng, nếu Việt Nam không có chính sách phù hợp trong giai đoạn từ nay đến năm 2025 thì cơ hội để phát triển ngành công nghiệp ô tô sẽ không còn. Và nếu Chính phủ không có chính sách đảm bảo khoảng cách về chi phí sản xuất giữa xe CKD (nhập linh kiện về lắp ráp) và CBU (nhập khẩu nguyên chiếc) thì rất khó để duy trì ngành công nghiệp ô tô.
Theo lý giải của ông Yoshihisa Maruta, năm 2018, khi thuế nhập khẩu từ ASEAN dỡ bỏ, giá xe nhập khẩu giảm sẽ giúp thị trường tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên, phải đến sau năm 2025 trở đi mới là giai đoạn phổ cập hóa ô tô ở Việt Nam thì thị trường mới thật sự bùng nổ. Vì vậy, việc áp dụng những chính sách hỗ trợ ngành là cực kỳ quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Theo ông, Việt Nam nên học tập cách làm của Thái Lan, phát triển thị trường với dung lượng phù hợp trước khi mở cửa thị trường và tiếp tục thực hiện các chính sách phát triển ngành công nghiệp ô tô khi thị trường đã mở cửa.
Bài học mà ông Yoshihisa Maruta nhắc tới là trước khi mở cửa thị trường, Thái Lan đã xây dựng một ngành ô tô đủ mạnh, trong đó, rất chú trọng đến ngành công nghệ phụ trợ. Khi quyết định xây dựng ngành công nghiệp, Chính phủ nước này đã khuyến khích các doanh nghiệp trong nước sản xuất phụ tùng để tăng khả năng cạnh tranh về giá đồng thời với việc giảm thuế cho các doanh nghiệp sản xuất.
Không chỉ vậy, Thái Lan còn đưa ra chính sách, lộ trình phát triển chắc chắn để các DN dựa vào đó mà lên kế hoạch sản xuất. Đến nay, sau 53 năm xây dựng và phát triển, Thái Lan đã đạt sản lượng 2,8 triệu xe, xuất khẩu khoảng 1 triệu chiếc và lọt vào Top 10 nước xuất khẩu ô tô hàng đầu thế giới.
Riêng về phụ tùng, mỗi năm, kim ngạch xuất khẩu của nhóm này đạt đến 5 tỷ USD, hơn tất cả những nước ASEAN cộng lại. Hiện ngành công nghiệp ô tô đã đóng góp đến 12% GDP cho nước này.
Theo ông Jesus Metelo Arias, để cứu ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, Chính phủ nên có chính sách hỗ trợ và chính sách thuế thấp hoặc bằng các nước trong khu vực. Hiện nay, chi phí sản xuất của Việt Nam cao hơn các nước khoảng 20% mà nguyên nhân chủ yếu là thuế cao (thuế nhập khẩu linh kiện, thuế thu nhập doanh nghiệp...).
Quan trọng hơn, các cơ quan của Việt Nam cần xây dựng chính sách ổn định va đảm bảo cho thị trường đồng thời với việc xây dựng các nhà cung ứng có thể tham gia vao chuỗi cung ứng toàn cầu. Có như vậy, sản xuất trong nước mới đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và ngành công nghiệp ô tô mới phát triển.
Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013
Doanh nghiệp ngành gỗ tăng tốc làm mới máy móc, công nghệ
Tại buổi họp báo chiều 23-7, Triển lãm quốc tế lần thứ 10 với chuyên đề máy và thiết bị công nghiệp chế biến gỗ 2013 nhiều thông tin về máy móc, công nghệ mới được đưa ra
Ông Nguyễn An Điềm, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định, cho biết trước nhu cầu của thị trường, khách hàng về chất lượng, giá trị… sản phẩm gỗ, các doanh nghiệp trong ngành đang cố gắng đầu tư thay đổi về công nghệ, máy móc.
“DN gỗ trước đây hay dùng thiết bị, máy móc xuất xứ từ Đài Loan để chế biến gỗ, nay phần lớn DN chuyển sang sử dụng thiết bị, máy móc nhập từ châu Âu, Nhật Bản để nâng cao chất lượng và đáp ứng thị trường tiêu dùng”.
Tại buổi họp báo, ông Đặng Quốc Hùng, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến Gỗ TP.HCM, cho biết kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sáu tháng đầu năm đạt 2,6 tỉ USD, tăng 12% so với cùng kỳ và dự kiến đến hết năm 2013 kim ngạch xuất khẩu đạt 5 tỉ USD.
Cũng theo ông Hùng trong các mặt hàng xuất khẩu thì đồ gỗ là mặt hàng có tỉ lệ xuất siêu cao nhất.
Ông Nguyễn An Điềm, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định, cho biết trước nhu cầu của thị trường, khách hàng về chất lượng, giá trị… sản phẩm gỗ, các doanh nghiệp trong ngành đang cố gắng đầu tư thay đổi về công nghệ, máy móc.
“DN gỗ trước đây hay dùng thiết bị, máy móc xuất xứ từ Đài Loan để chế biến gỗ, nay phần lớn DN chuyển sang sử dụng thiết bị, máy móc nhập từ châu Âu, Nhật Bản để nâng cao chất lượng và đáp ứng thị trường tiêu dùng”.
Tại buổi họp báo, ông Đặng Quốc Hùng, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến Gỗ TP.HCM, cho biết kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sáu tháng đầu năm đạt 2,6 tỉ USD, tăng 12% so với cùng kỳ và dự kiến đến hết năm 2013 kim ngạch xuất khẩu đạt 5 tỉ USD.
Cũng theo ông Hùng trong các mặt hàng xuất khẩu thì đồ gỗ là mặt hàng có tỉ lệ xuất siêu cao nhất.
Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013
Không máy móc vẫn "soi" được vàng
Bạn có tin là có những người chỉ cần nhìn là họ biết ở đâu có vàng ? Ở thánh địa Phước Sơn không cần thiết bị, máy móc, không phải dùng đến chất độc Cyanua, không cần đào bới những vẫn có thể tìm được vàng
Tay không tăm ra 3.000 cây vàng
Nghe kể về nghề tăm vàng đã lâu cùng những lời đồn đoán ly kỳ hấp dẫn. Mấy lần lên Phước Sơn, mò vào tận các bãi vàng, tìm gặp các chủ bãi, phu vàng hỏi về nghề tăm vàng, tôi thường nhận được những cái lắc đầu. Tất cả đều giấu bởi đơn giản đó là bí mật của nghề hái ra …vàng nên không ai hé răng nửa lời. Hỏi dò, lần mò mấy bận, cuối cùng tôi cũng tìm được người hé lộ câu chuyện nghề đầy bí mật về cái nghề này.
Thị trấn Khâm Đức, từ ngày đường Hồ Chí Minh mở qua càng trù phú và giàu có. Các công ty trong và ngoài nước về đây khai thác vàng, với hàng ngàn công nhân làm phố núi thêm tấp nập. Nhưng mặt trái cũng hiện rõ. Núi rừng bị cày xới, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội và những cái chết thương tâm từ những bãi, hầm vàng. Ở vùng núi này, bao lâu nay người ta đã quen với tin tức về những vụ sập hầm lấy đi tính mạng của những phu vàng theo đuổi giấc mơ đổi đời.
Thật tình cờ, gặp ông xe ôm, dáng lọm khọm, lưng hơi gù. Ông cười bảo: “Tôi gù cũng vì cõng vàng đó”. Giọng nói hào sảng pha chút lì lợm, bặm trợn của một hảo hán mấy chục năm gắn bó với thánh địa vàng. Ông là Trần Phương Triều, người địa phương duy nhất học được ngón nghề tăm vàng, nay đã giải nghệ. “Mấy chú em, hỏi tăm vàng để đi lấy vàng hay học nghề”, ông Triều hỏi với ánh mắt dò xét. Tỉ tê, giải thích mãi ông mới buông lời: “Được. Về nhà rồi tính”.
Ông Triều có một cơ ngơi nhà khang trang ngay thị trấn Khâm Đức và là chủ của một CLB bida, chủ yếu phục vụ các kỹ sư, chuyên gia và công nhân các công ty vàng ở Phước Sơn. Ông cười khà: “Tất cả cũng nhờ vàng mà có. Giờ không còn sức nữa, vợ chồng ở nhà làm ăn lặt vặt cũng đủ sống, đủ nuôi thằng con ăn học đàng hoàng. Chạy xe ôm chỉ cho vui”.
Bặp mấy hơi thuốc, ông Triều kể tôi nghe câu chuyện về nghề tăm vàng ông gắn bó một thời. Sinh ra ở Thăng Bình (Quảng Nam), năm 1992 ông khăn gói lên Phước Sơn với ước mơ đi dạy học. Nhưng rồi cơn lốc vàng ngày ấy đã cuốn mất ước mơ ban đầu của chàng trai trẻ. Tham gia đội quân phu vàng, rồi ông quen những thợ tăm vàng từ Thái Nguyên. Kết thân để đi theo học nghề, sau 3 năm ông đã học được bí kíp nghề tăm vàng. Năm 1995, ông bắt đầu những chuyến xe rừng vào tận Phước Kim, Phước Thành để tăm vàng.
Ông kể rằng dân tăm vàng chuyên nghiệp giỏi chủ yếu từ Thái Nguyên vào. Có nhiều thợ tăm rất giỏi, chỉ cần tăm vài vị trí là xác định đúng hục vàng lấy ra được mấy ký vàng. Tăm vàng là đi tìm dấu vết của vàng hục từ khe suối, núi đồi. Dân tăm vàng thường đi theo nhóm với đồ nghề chỉ là chiếc bồn đãi, xà beng và xẻng cùng nhu yếu phẩm.
Ông Triều cho biết, khi xác định vùng núi, địa bàn, nhóm thợ tăm sẽ lên đường. Những người tăm vàng giỏi, chỉ nhìn vào cây cỏ, nhìn vào đất đá, dòng chảy sông suối là biết có vàng hay không. Thợ tăm sẽ bắt đầu từ khe suối xung quanh một ngọn đồi. Từ suối, thợ tăm sẽ dùng bồn đãi vàng để tìm ra những hạt vàng nhỏ mà dân nghề gọi là “giống” vàng. Nếu xác định được giống vàng, thợ tăm sẽ tiếp tục tăm dần ngược lên ngọn đồi. Mỗi một điểm tăm, thợ sẽ đào sâu khoảng 30cm lấy đất đá đó đãi để tiếp tục tìm giống vàng. Nếu giống vàng bóng thì hục chứa vàng sẽ ở xa do quá trình lăn làm bào mòn. Giống vàng còn góc cạnh thì hục vàng sẽ ở gần. Tất cả được quan sát bằng mắt thường đầy tinh vi và kinh nghiệm. Nhìn vào hạt giống vàng, thợ tăm sẽ xác định vị trí của hục vàng, nơi chứa vàng và khoanh vùng để lấy vàng. Và chuyện trúng vàng ký, thậm chí vàng tạ bằng nghề tăm không phải là hoang đường. “Mỗi chuyến đi kéo dài từ một đến vài tháng trời, với dân tăm trúng năm bảy ký vàng là chuyện thường. Tôi biết có những người tăm trúng vàng tạ. Trúng xong, họ tìm cách lấy vàng ra khỏi rừng rồi bỏ đi và biến mất luôn”, ông Triều nói.
Ông Triều kể lại năm 1998 trong một lần tăm vàng ở Phước Thành, ông trúng hục vàng 5-6 ký vàng. Nhưng thời điểm đó, vàng còn rẻ, chia đều cho anh em cũng không ăn thua. Có người em họ theo ông tăm vàng, ban đầu không tin, rồi chính mắt thấy vàng óng ánh, sau đó đã gắn bó với ông trong suốt những chuyến đi. Nhưng có nhiều chuyến đi kéo dài cả mấy tháng trời nhóm thợ tăm chỉ được vài chỉ vàng.
Chúng tôi tìm đến nhà ông N., một chủ bãi có tiếng ở Phước Sơn nay đã giải nghệ. Ông N. trước là công an nhưng bị kỷ luật phải ra khỏi ngành, sau đó làm chủ bãi. Qua nhiều biến cố, ông về mở hàng quán buôn bán nuôi con ăn học. Ông N. cho biết: “Dân tăm vàng giỏi chủ yếu là dân ở Đồng Hỷ, Đại Từ ở Thái Nguyên vào. Những năm 1990, có những đội tăm trúng vàng tạ, họ lấy vàng ra hết rồi mình mới biết. Anh em kéo quân qua đó đánh lại cũng kiếm được bộn”.
Câu chuyện về dân tăm vàng tìm ra hơn 3.000 cây vàng ở Phước Sơn ông Triều, ông N. và các chủ bãi khác vẫn còn nhớ rõ. Đó là vào năm 1997, đội thợ tăm vàng dân Thái Nguyên vào thôn Trà Văn (Phước Kim) phát hiện tảng đá lớn ngậm vàng. Tảng đá lớn nằm giữa đường nhưng không ai biết có vàng bên trong. Nhóm thợ tăm phát hiện nhưng vì đá quá lớn, không có cách nào để lấy hết vàng ra. Thông tin lan truyền, dân làm vàng từ miền Bắc kéo vào và từ Gia Lai kéo qua, chia nhau xẻ đá đánh vàng.
Ông Triều kể: “Tảng đá lớn bằng ngôi nhà 2 tầng. Dân tăm vàng Thái Nguyên vào phát hiện ra, dân tứ xứ đổ xô vào đánh vàng. Đánh 3 - 4 tháng mới xong tảng đá. Đá xay ra một tiếng sau là có vàng rồi. Cả ngàn người tham gia thành một đại công trường. Tảng đá ấy ngậm hơn 3.000 cây vàng mà không ai hay”.
Của thiên trả địa
Hỏi ông Triều sao lại bỏ nghề. Ông thở dài: “Của thiên trả địa”. Ông
Triều, ông N. và nhiều người khác nổi lên là những tay chơi có tiếng xứ
vàng này.
“Trúng vàng, giàu có thật. Nhưng cái gì cũng có giá cả. Sau mỗi lần trúng đậm là ăn chơi. Mỗi cuộc chơi ném đi vài chục cây vàng. Hết vàng lại vào rừng. Nhưng ăn của rừng, rưng rưng nước mắt”, ông N. tâm sự. Để làm ra vàng, nhiều phu đã phải bỏ mạng khiến nhiều chủ bãi như ông N. ăn năn từ bỏ để quay về cuộc sống thường ngày, tìm sự an bình cho bản thân và gia đình.
Cũng thật tình cờ, tôi gặp Tấn, là lính phu vàng của ông N. một thời. Tấn quê Quế Sơn, từng theo chân đội phu vàng, vào tận Phước Thành, Phước Kim để làm vàng. Tấn về Khâm Đức thăm ông chủ xưa. Ngày đó, Tấn vừa tốt nghiệp cấp 3, nhà nghèo nên phải mò qua Phước Sơn đi làm phu vàng. Biết hoàn cảnh, chính ông N. đã khuyên cậu cùng 2 chàng trai phu vàng khác về quê ăn học, đừng theo nghiệp vàng khổ ải. Nghe lời, Tấn quay về miệt mài sách vở và trúng tuyển đại học. Nay đã thành danh, nhưng ký ức về năm tháng gian khổ vẫn còn in hằn: “Nếu ngày đó không quyết tâm, không được chú N. động viên, mình không biết cuộc đời mình giờ sẽ trôi về đâu. Có khi giờ đã vùi xác dưới những hầm vàng”.
Ông Triều giờ đây ngày vài cuốc xe ôm quanh thị trấn làm thú vui. Thỉnh thoảng có người tìm ông yêu cầu ông chở người, hàng vào bãi vàng với giá vài triệu đồng cho một cuốc, nhưng ông từ chối. Ở cái tuổi 52, lưng đã còng theo những chuyến tìm vàng, không ít lần phải chứng kiến những cảnh đau thương, tang tóc vì cuộc chiến tranh giành vàng giữa núi rừng. Giờ, ông chỉ muốn những ký ức đó ngủ yên.
Ông Triều kể về câu chuyện tăm vàng.
|
Nghe kể về nghề tăm vàng đã lâu cùng những lời đồn đoán ly kỳ hấp dẫn. Mấy lần lên Phước Sơn, mò vào tận các bãi vàng, tìm gặp các chủ bãi, phu vàng hỏi về nghề tăm vàng, tôi thường nhận được những cái lắc đầu. Tất cả đều giấu bởi đơn giản đó là bí mật của nghề hái ra …vàng nên không ai hé răng nửa lời. Hỏi dò, lần mò mấy bận, cuối cùng tôi cũng tìm được người hé lộ câu chuyện nghề đầy bí mật về cái nghề này.
Thị trấn Khâm Đức, từ ngày đường Hồ Chí Minh mở qua càng trù phú và giàu có. Các công ty trong và ngoài nước về đây khai thác vàng, với hàng ngàn công nhân làm phố núi thêm tấp nập. Nhưng mặt trái cũng hiện rõ. Núi rừng bị cày xới, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội và những cái chết thương tâm từ những bãi, hầm vàng. Ở vùng núi này, bao lâu nay người ta đã quen với tin tức về những vụ sập hầm lấy đi tính mạng của những phu vàng theo đuổi giấc mơ đổi đời.
Thật tình cờ, gặp ông xe ôm, dáng lọm khọm, lưng hơi gù. Ông cười bảo: “Tôi gù cũng vì cõng vàng đó”. Giọng nói hào sảng pha chút lì lợm, bặm trợn của một hảo hán mấy chục năm gắn bó với thánh địa vàng. Ông là Trần Phương Triều, người địa phương duy nhất học được ngón nghề tăm vàng, nay đã giải nghệ. “Mấy chú em, hỏi tăm vàng để đi lấy vàng hay học nghề”, ông Triều hỏi với ánh mắt dò xét. Tỉ tê, giải thích mãi ông mới buông lời: “Được. Về nhà rồi tính”.
Ông Triều có một cơ ngơi nhà khang trang ngay thị trấn Khâm Đức và là chủ của một CLB bida, chủ yếu phục vụ các kỹ sư, chuyên gia và công nhân các công ty vàng ở Phước Sơn. Ông cười khà: “Tất cả cũng nhờ vàng mà có. Giờ không còn sức nữa, vợ chồng ở nhà làm ăn lặt vặt cũng đủ sống, đủ nuôi thằng con ăn học đàng hoàng. Chạy xe ôm chỉ cho vui”.
Bặp mấy hơi thuốc, ông Triều kể tôi nghe câu chuyện về nghề tăm vàng ông gắn bó một thời. Sinh ra ở Thăng Bình (Quảng Nam), năm 1992 ông khăn gói lên Phước Sơn với ước mơ đi dạy học. Nhưng rồi cơn lốc vàng ngày ấy đã cuốn mất ước mơ ban đầu của chàng trai trẻ. Tham gia đội quân phu vàng, rồi ông quen những thợ tăm vàng từ Thái Nguyên. Kết thân để đi theo học nghề, sau 3 năm ông đã học được bí kíp nghề tăm vàng. Năm 1995, ông bắt đầu những chuyến xe rừng vào tận Phước Kim, Phước Thành để tăm vàng.
Ông kể rằng dân tăm vàng chuyên nghiệp giỏi chủ yếu từ Thái Nguyên vào. Có nhiều thợ tăm rất giỏi, chỉ cần tăm vài vị trí là xác định đúng hục vàng lấy ra được mấy ký vàng. Tăm vàng là đi tìm dấu vết của vàng hục từ khe suối, núi đồi. Dân tăm vàng thường đi theo nhóm với đồ nghề chỉ là chiếc bồn đãi, xà beng và xẻng cùng nhu yếu phẩm.
Ông Triều cho biết, khi xác định vùng núi, địa bàn, nhóm thợ tăm sẽ lên đường. Những người tăm vàng giỏi, chỉ nhìn vào cây cỏ, nhìn vào đất đá, dòng chảy sông suối là biết có vàng hay không. Thợ tăm sẽ bắt đầu từ khe suối xung quanh một ngọn đồi. Từ suối, thợ tăm sẽ dùng bồn đãi vàng để tìm ra những hạt vàng nhỏ mà dân nghề gọi là “giống” vàng. Nếu xác định được giống vàng, thợ tăm sẽ tiếp tục tăm dần ngược lên ngọn đồi. Mỗi một điểm tăm, thợ sẽ đào sâu khoảng 30cm lấy đất đá đó đãi để tiếp tục tìm giống vàng. Nếu giống vàng bóng thì hục chứa vàng sẽ ở xa do quá trình lăn làm bào mòn. Giống vàng còn góc cạnh thì hục vàng sẽ ở gần. Tất cả được quan sát bằng mắt thường đầy tinh vi và kinh nghiệm. Nhìn vào hạt giống vàng, thợ tăm sẽ xác định vị trí của hục vàng, nơi chứa vàng và khoanh vùng để lấy vàng. Và chuyện trúng vàng ký, thậm chí vàng tạ bằng nghề tăm không phải là hoang đường. “Mỗi chuyến đi kéo dài từ một đến vài tháng trời, với dân tăm trúng năm bảy ký vàng là chuyện thường. Tôi biết có những người tăm trúng vàng tạ. Trúng xong, họ tìm cách lấy vàng ra khỏi rừng rồi bỏ đi và biến mất luôn”, ông Triều nói.
Ông Triều kể lại năm 1998 trong một lần tăm vàng ở Phước Thành, ông trúng hục vàng 5-6 ký vàng. Nhưng thời điểm đó, vàng còn rẻ, chia đều cho anh em cũng không ăn thua. Có người em họ theo ông tăm vàng, ban đầu không tin, rồi chính mắt thấy vàng óng ánh, sau đó đã gắn bó với ông trong suốt những chuyến đi. Nhưng có nhiều chuyến đi kéo dài cả mấy tháng trời nhóm thợ tăm chỉ được vài chỉ vàng.
Chúng tôi tìm đến nhà ông N., một chủ bãi có tiếng ở Phước Sơn nay đã giải nghệ. Ông N. trước là công an nhưng bị kỷ luật phải ra khỏi ngành, sau đó làm chủ bãi. Qua nhiều biến cố, ông về mở hàng quán buôn bán nuôi con ăn học. Ông N. cho biết: “Dân tăm vàng giỏi chủ yếu là dân ở Đồng Hỷ, Đại Từ ở Thái Nguyên vào. Những năm 1990, có những đội tăm trúng vàng tạ, họ lấy vàng ra hết rồi mình mới biết. Anh em kéo quân qua đó đánh lại cũng kiếm được bộn”.
Câu chuyện về dân tăm vàng tìm ra hơn 3.000 cây vàng ở Phước Sơn ông Triều, ông N. và các chủ bãi khác vẫn còn nhớ rõ. Đó là vào năm 1997, đội thợ tăm vàng dân Thái Nguyên vào thôn Trà Văn (Phước Kim) phát hiện tảng đá lớn ngậm vàng. Tảng đá lớn nằm giữa đường nhưng không ai biết có vàng bên trong. Nhóm thợ tăm phát hiện nhưng vì đá quá lớn, không có cách nào để lấy hết vàng ra. Thông tin lan truyền, dân làm vàng từ miền Bắc kéo vào và từ Gia Lai kéo qua, chia nhau xẻ đá đánh vàng.
Ông Triều kể: “Tảng đá lớn bằng ngôi nhà 2 tầng. Dân tăm vàng Thái Nguyên vào phát hiện ra, dân tứ xứ đổ xô vào đánh vàng. Đánh 3 - 4 tháng mới xong tảng đá. Đá xay ra một tiếng sau là có vàng rồi. Cả ngàn người tham gia thành một đại công trường. Tảng đá ấy ngậm hơn 3.000 cây vàng mà không ai hay”.
Của thiên trả địa
Núi rừng Phước Sơn bị phá nát vì khai thác vàng.
|
“Trúng vàng, giàu có thật. Nhưng cái gì cũng có giá cả. Sau mỗi lần trúng đậm là ăn chơi. Mỗi cuộc chơi ném đi vài chục cây vàng. Hết vàng lại vào rừng. Nhưng ăn của rừng, rưng rưng nước mắt”, ông N. tâm sự. Để làm ra vàng, nhiều phu đã phải bỏ mạng khiến nhiều chủ bãi như ông N. ăn năn từ bỏ để quay về cuộc sống thường ngày, tìm sự an bình cho bản thân và gia đình.
Cũng thật tình cờ, tôi gặp Tấn, là lính phu vàng của ông N. một thời. Tấn quê Quế Sơn, từng theo chân đội phu vàng, vào tận Phước Thành, Phước Kim để làm vàng. Tấn về Khâm Đức thăm ông chủ xưa. Ngày đó, Tấn vừa tốt nghiệp cấp 3, nhà nghèo nên phải mò qua Phước Sơn đi làm phu vàng. Biết hoàn cảnh, chính ông N. đã khuyên cậu cùng 2 chàng trai phu vàng khác về quê ăn học, đừng theo nghiệp vàng khổ ải. Nghe lời, Tấn quay về miệt mài sách vở và trúng tuyển đại học. Nay đã thành danh, nhưng ký ức về năm tháng gian khổ vẫn còn in hằn: “Nếu ngày đó không quyết tâm, không được chú N. động viên, mình không biết cuộc đời mình giờ sẽ trôi về đâu. Có khi giờ đã vùi xác dưới những hầm vàng”.
Ông Triều giờ đây ngày vài cuốc xe ôm quanh thị trấn làm thú vui. Thỉnh thoảng có người tìm ông yêu cầu ông chở người, hàng vào bãi vàng với giá vài triệu đồng cho một cuốc, nhưng ông từ chối. Ở cái tuổi 52, lưng đã còng theo những chuyến tìm vàng, không ít lần phải chứng kiến những cảnh đau thương, tang tóc vì cuộc chiến tranh giành vàng giữa núi rừng. Giờ, ông chỉ muốn những ký ức đó ngủ yên.
| Hỏi ông Triều có truyền bí kíp tăm vàng cho con trai hay người thân không? Ông buông ánh mắt nhìn về rừng sâu rồi chậm rãi: “Trước, tăm vàng chỉ để lấy vàng hục, không dùng bom mìn không dùng chất độc. Nay, vàng ngày càng khan hiếm, người ta đổ xô tìm mọi cách khai thác. Rừng núi đã tan hoang rồi. Máy móc vào cày xới núi rừng, phá nát sông suối, còn đâu nữa mà tăm!”. |
Theo Nguyễn Thành
Tiền Phong
Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013
Từ thợ máy thành "vua bánh mì"
Xuất thân là người làm máy , ông chủ Kao Siêu Lực làm chủ chuỗi cửa hàng bánh nổi tiếng ABC với nhiều cửa hàng trong và ngoài nước là Giám đốc công ty bánh kẹo Á Châu
Sau gần chục cuộc hẹn không thành, cuối cùng tôi cũng
may mắn gặp ông trong một hoạt động do con gái ông tổ chức. Cuộc nói
chuyện liên tục bị gián đoạn bởi những vị khách của buổi tiệc, những
người không muốn bỏ lỡ cơ hội gặp "vua bánh mì" Kao Siêu Lực - Giám đốc điều hành công ty bánh kẹo Á Châu.
Khởi đầu từ công ty bánh kẹo tư nhân Đức Phát, sau khi
chia tách năm 2007, với 12 cửa hàng và 2 triệu USD từ tiền bán thương
hiệu, ông Lực quyết định khởi đầu lại “nghề tủ” với thương hiệu bánh ABC. Trong lúc Đức Phát đầu tư vào ngành nước, trà, bất động sản thì ông Lực vẫn miệt mài với bánh.
| ông Kao Siêu Lực. |
Làm bánh tốt nhờ rành... máy
Có lần đến tham quan nhà máy ABC, các ông chủ
một tập đoàn bánh ở Đài Loan đặc biệt quan tâm tới máy cuốn bánh của
ông Lực. Khi biết ông chính là người chế tạo ra máy, họ rất ngạc nhiên
và đặt mua 5 dàn máy cuộn bánh. Ông chia sẻ: “Biết đâu mai mốt tôi lại
kinh doanh cả máy làm bánh”.
Nói như vậy vì trước khi trở thành thợ làm bánh,
ông Lực vốn là thợ máy. Những chiếc máy mới nhập về có ưu khuyết điểm
gì ông đều biết rõ. Bất chấp những khuyết điểm của máy, ông đều tự mình
sửa chữa. Bắt đầu từ việc sửa chữa những khuyết điểm nhỏ, máy chạy chậm
khiến quá trình nhào bột bị dính tay, ông cũng tự mình cải tiến.
Sau đó ông tự chế tạo ra những chiếc máy tiết kiệm chi
phí. Nhận thấy tỷ lệ bột trộn với 58% nước còn lãng phí, ông nghiên cứu
rồi chế tạo ra chiếc máy thử nghiệm. Cũng với tỷ lệ bột đó, nhưng chiếc
máy của ông sử dụng 61% nước, nhờ đó tỷ lệ bánh cho ra tăng thêm 3%. Như
vậy, chi phí tiết kiệm được trong 1 năm khoảng 100.000 USD. Nhờ vậy mà ABC không phải tăng giá bán.
Là Chủ tịch hiệp hội bánh thế giới, ông Lực mang kinh
nghiệm của mình chia sẻ với bạn bè nước ngoài và nhiều người ngỏ ý muốn
mua. Họ đánh giá chiếc máy do ông chế tạo chạy nhanh hơn, sử dụng nước
nhiều hơn, nhỏ gọn và cách cuốn bánh chắc chắn. Đến nay, sau 2 năm, ông
đã bán hơn 10 giàn máy sang Philippines, Singapore, Đài Loan. Ông cho
biết giá bán chỉ vài ngàn USD/chiếc. Cho đến nay, trong xưởng sản xuất
bánh của ông có 30% máy do ông tự sáng chế. “Với những chiếc máy này,
tôi tiết kiệm được khoản tiền rất lớn”, ông chia sẻ.
Góp vốn bằng bánh vì thuê mặt bằng
| Thương hiệu bánh ABC ngày càng được khách ưa chuộng. |
Ông Lực cho biết, chiến lược của ABC khá rõ
ràng: không liên kết, không đầu tư mở rộng trong thời điểm này, vì chi
phí thuê mặt bằng, nhân công quá cao. Thông thường chi phí mở một cửa
hàng khoảng 100-200 triệu đồng.
Hiện tại 65% mặt bằng ABC là của công ty. Chi phí mặt bằng khá cao nên ông Lực cho biết, sắp tới ABC sẽ liên kết với những đối tác có mặt bằng để mở cửa hàng theo tỷ lệ 40-60, thay vì thuê. ABC
sẽ góp 40% thông qua cung cấp bánh, cửa hàng bán xong mới trả tiền. Lợi
nhuận sẽ chia theo tỷ lệ vốn góp. Ông Lực cho rằng, mô hình liên kết
này phù hợp với ABC trong giai đoạn hiện nay.
Ông chỉ muốn dừng lại ở mức hợp tác đó, không muốn liên
doanh góp vốn với bên ngoài vì dự tính sẽ để lại công ty cho các con
của mình. Hơn nữa, ông cũng muốn chủ động trong việc ra các quyết định
kinh doanh. “Nếu hợp tác với các quỹ, muốn đầu tư thêm máy cũng phải xin
ý kiến, hàng tháng phải cố gắng kinh doanh có lợi nhuận, như vậy sẽ mất
tự do và mất quyền kiểm soát”, ông nói.
Gia công thay liên doanh
Thay vì liên doanh, ABC chọn hướng gia công
cho các công ty thức ăn nhanh nước ngoài. Qua giới thiệu của các hiệp
hội và các doanh nghiệp nước ngoài, ngay sau khi đặt chân vào Việt Nam,
các thương hiệu như KFC, Lotteria, Jollibee, Burger King... đều liên kết
với ABC để ABC cung cấp Hamburger và sandwich.
“Các doanh nghiệp này đến gặp tôi, hỏi tôi có biết làm loại bánh này
không. Nói đến bánh nào tôi đều gật đầu rồi cho thợ làm thử, sau đó nhận
gia công độc quyền”, ông kể. Nhưng để làm được việc này, ông Lực phải
đầu tư dây chuyền sản xuất riêng và tuân thủ theo điều kiện của đối tác.
Thị phần gia công của ABC hiện tăng trưởng liên tục. Nếu 10 năm trước chỉ chiếm 2% thì nay đã là 25%. Trung bình một ngày ABC
cung cấp cho các đối tác 30.000-40.000 cái hamburger. “Con số này sẽ
còn tăng trong thời gian tới, khi một số đối tác fast food mới đang
chuẩn bị vào Việt Nam”, ông nói.
Ông cho biết 2 nhà máy của ABC hiện nay không kịp sản xuất, vì vậy ABC
đã đầu tư 4 triệu USD để xây dựng nhà máy vào cuối năm nay, trong đó 2
triệu đầu tư xây dựng nhà xưởng và 2 triệu USD cho máy móc. Nhà máy này
sẽ có công suất 6.000 bánh/giờ, chủ yếu là thiết bị sản xuất tự động đến
80%, phục vụ cho trong nước và xuất khẩu.
Ngoài thị trường nội địa, ABC đã có 5 cửa hàng bán lẻ tại Campuchia, sắp tới sẽ nâng lên thành 10 cửa hàng. Bắt đầu từ cửa hàng thứ 11, ABC
sẽ mở tại các tỉnh thành ở Campuchia thay vì ở thành phố lớn. Ngoài thị
trường này, Công ty còn xuất bánh sang Nhật, Anh và Úc. “Chỉ tính riêng
thị trường Nhật, công ty đã xuất 4 container/tháng”, ông Lực nói.
Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013
Người lính cụ hồ vượt khó bằng phát minh
Người lính cụ hồ Nguyễn Văn Hoàn, thôn Tiền Phong, xã Phú Lâm, huyện Yên Sơn (Tuyên Quang) không chỉ làm kinh tế giỏi, mỗi năm thu nhập hàng trăm triệu đồng, còn nổi tiếng khắp vùng với những sáng chế, cải tiến máy móc, đem lại hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp.
|
Cựu chiến binh Nguyễn Văn Hoàn đang thao tác máy phun thuốc trừ sâu do ông sáng chế.
|
Sau
khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, trở về địa phương với hai bàn tay
trắng, cuộc sống gia đình ông Nguyễn Văn Hoàn cũng giống như những hộ
khác tại xã Phú Lâm gặp rất nhiều khó khăn khi giá chè quá thấp, trong
khi năng suất không cao do canh tác theo kiểu manh mún, không tập trung,
mô hình lại không đủ lớn để có thể áp dụng được các loại máy móc. Chia
tay với công ty chè là giải pháp mà nhiều gia đình ở Phú Lâm đã chọn vì
không thể đáp ứng được nhu cầu cuộc sống. Khi công ty chè giải thể, ông
Hoàn quyết định nhận 12 ha chè để phục hồi, cải tạo. Những ngày đầu, gia
đình ông đã gặp rất nhiều khó khăn khi tiền vốn không có, đất đai thì
cằn cỗi, cây chè lại bị suy dinh dưỡng nhiều năm... Nhưng với nghị lực
và lòng quyết tâm của Anh bộ đội Cụ Hồ, bằng cách lấy ngắn nuôi dài,
thực hành tiết kiệm, ông Hoàn đã khôi phục toàn bộ 12 ha chè và khai
hoang thêm hơn 2 ha chè, gần 6 ha keo. Ngoài ra, ông còn nhận đất để
trồng thêm 20 ha mía. Giờ đây, gia đình ông Hoàn đã có thu nhập sau khi
trừ chi phí lên tới 600 triệu đồng/năm, mỗi mùa vụ thu hoạch tạo công ăn
việc làm cho 50 - 60 lao động.
Trong căn nhà nhỏ trên đỉnh đồi chè, có một góc nhỏ ngổn ngang sắt thép, que hàn điện, ống nhựa, động cơ xe máy… Ông Hoàn vui vẻ cho biết: “Đây là khoảng không gian để tôi cho ra đời những dụng cụ chẳng giống ai. Ấy thế mà lại hiệu quả lắm!”. Gắn bó với cây chè nhiều năm, ông nhận thấy việc sản xuất chè gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong việc diệt trừ sâu bệnh cho chè. Cây chè là cây có nhiều sâu bệnh nên việc phun thuốc cho chè vừa ảnh hưởng tới sức khỏe người chăm sóc, mà chất lượng chè cũng kém. Lúc đó ở xã Phú Lâm có phong trào phát triển vùng chè an toàn, để có những búp chè ngon mà không còn tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, người trồng chè chỉ còn cách duy nhất là nhặt sâu bằng tay, rất tốn công. Ông Hoàn chia sẻ: “Mỗi lần nhà tôi có người đặt mua chè sạch, loại chè không phun bất cứ loại thuốc trừ sâu nào thì mỗi sáng tinh mơ gà gáy, tôi đã giục vợ con ra đồng bắt sâu. Làm chè kiểu này khổ lắm, mất nhiều thời gian. Sau nhiều đêm suy nghĩ, tôi muốn làm một việc gì đó cho vợ con đỡ khổ và thế là chiếc máy hút sâu ra đời".
Để làm nên chiếc máy này, ông cũng đã trải qua rất nhiều lần thất bại, nhiều lần đem ra thử nghiệm chẳng những không hút được sâu mà còn nát hết cả búp chè. Không chịu từ bỏ, bằng lòng kiên trì của mình, ông đã tìm tòi, học hỏi, cuối cùng sản phẩm máy hút sâu chè cũng ra đời. Ban đầu bộ phận cánh quạt của máy vừa làm nhiệm vụ hút sâu vừa làm nhiệm vụ giết sâu, vì vậy, đòi hỏi hiệu suất của máy cao nên tốn nhiều nhiên liệu, máy cũng nặng đến 9 kg khó mang vác. Tiếp tục cải tiến ông đã thay cánh quạt mới và lắp thêm một bộ phận đựng sâu, cánh quạt bây giờ chỉ còn nhiệm vụ hút sâu đơn thuần nên không cần hiệu suất máy cao nữa. Do đó, nhiên liệu cũng ít đi (6 lít xăng cho 1 ha chè), máy cũng chỉ nặng 5 kg và giá khoảng 1,5 triệu đồng.
|
Góc chế tạo máy của CCB Nguyễn Văn Hoàn.
|
Nếu
sản xuất chè cho nhà máy thì phải phun thuốc trừ sâu, theo cách làm
truyền thống mất rất nhiều công, lại gây độc hại với công nhân. Từ thực
tế đó, ông Hoàn tiếp tục sáng chế máy phun thuốc trừ sâu. Chiếc máy phun
thuốc trừ sâu được thiết kế bởi một động cơ xe máy lắp thêm 1 bộ phận
nén hơi và một thùng nước 1.000 lít đặt trên xe công nông, chỉ cần một
công nhân vận hành mỗi ngày có thể phun được 4 ha chè, lại hạn chế tối
đa ảnh hưởng đến công nhân khi vòi phun rất dài với diện tích mỗi lần
phun rất rộng.
Cây chè sau một năm thu hoạch phải cắt đi từ 10-15 cm để chè ra búp mới. Với chiếc máy đốn chè cũ, việc cắt chè rất mất nhiều thời gian, ngọn chè không đứt hẳn, sót lại trên cây, tốn rất nhiều công sức mà chè lại có nguy cơ nhiễm bệnh cao. Nhìn thấy điều hạn chế này, ông Hoàn đã cải tiến chiếc máy cắt chè từ máy cắt cỏ, ông thay lưỡi cắt cũ hình vuông (khi cắt không có độ trượt, chè dễ bị dập) bằng chiếc lưỡi cắt mới được cải tiến như cánh cung nên khi cắt có độ trượt, chè đứt nhanh và dứt khoát. Theo ông Hoàn, hiện trong Nam ngoài Bắc bà con sản xuất chè đều dùng máy cắt này nhưng ít ai biết đây chính là cái máy cắt cỏ đã được ông cải tiến.
Những sáng chế của ông như máy phun thuốc trừ sâu, máy đốn chè… được đánh giá cao bởi thiết kế đơn giản, dễ sử dụng, những vật dụng để sáng chế hầu như đều có sẵn, khi hỏng hóc dễ dàng sửa chữa, trong khi hiệu quả lại rất cao. Với chiếc máy cắt cỏ được cải tiến thành máy đốn chè, ông đã đoạt giải nhì trong cuộc thi nhà nông sáng tạo do Hội Nông dân tỉnh Tuyên Quang tổ chức năm 2009, giải nhì cuộc thi sáng tạo do Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức năm 2010 với chiếc máy hút sâu chè... Nhưng có lẽ phần thưởng lớn nhất của người cựu chiến binh này chính là từ những sáng chế của ông mà người nông dân đã được hưởng lợi rất nhiều, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo.
Bài và ảnh: Văn Tý - Nhiên Bình
Thứ Ba, 23 tháng 7, 2013
Triển lãm quốc tế công nghiệp chế biến gỗ năm 2013
Ngày 23/7, tại Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra buổi họp báo giới thiệu Triển lãm
quốc tế lần thứ 10 về máy móc thiết bị công nghiệp chế biến gỗ năm 2013 (Vietnam
Woodworking Industry 2013).
Theo ông Phạm Quỳnh Giang, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Quảng cáo và Hội chợ thương mại (Vinexad), triển lãm sẽ diễn ra từ ngày 25-28/9 tại Trung tâm Hội chợ và triển lãm Sài Gòn, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh với 260 doanh nghiệp đến từ 19 quốc gia và vùng lãnh thổ như Việt Nam, Áo, Bỉ, Trung Quốc, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hong Kong, Ấn Độ, Indonesia, Italy, Nhật Bản, Malaysia, Thụy Sĩ, Đài Loan, Thái Lan, Mỹ.
Với hơn 500 gian hàng, các doanh nghiệp sẽ giới thiệu những công nghệ hàng đầu về chế biến gỗ, máy móc và nguyên phụ liệu cho ngành sản xuất gỗ lò sấy khô, công nghệ liên quan đến ngành gỗ, phụ kiện và phụ kiện lắp ráp cũng như các thiết bị hút bụi và những linh phụ kiện liên quan khác.
Nhiều tên tuổi hàng đầu của Việt Nam trong ngành chế biến, xuất khẩu sản phẩm gỗ sẽ tham gia triển lãm như Thuận Hiền, Quốc Duy, Vetta, Vạn Sự Lợi, Thiên Thành Phát… giới thiệu hệ thống máy ghép dọc tự động, ghép ngang cao tần, thiết bị lắp đặt hệ thống dây chuyền sơn, tháp sơn, súng sơn, bơm sơn, các loại máy khoan và máy khoan phay...
Về phía nước ngoài có sự tham gia của các hiệp hội như Liên đoàn nhà sản xuất máy chế biến gỗ châu Âu, Hiệp hội máy chế biến gỗ Đức, Hiệp hội máy chế biến gỗ và công cụ Italy, Hiệp hội máy chế biến gỗ Đài Loan, Hội đồng xuất khẩu gỗ cứng của Mỹ...
Theo ông Đặng Quốc Hùng, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh, sáu tháng đầu năm 2013, kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam đạt 2,46 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2012. Hiện Việt Nam đang đứng thứ 6 thế giới, thứ 2 châu Á và thứ nhất khu vực Đông Nam Á về xuất khẩu sản phẩm gỗ. Dự kiến cả năm 2013, kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam có thể đạt 5,5 tỷ USD.
Theo ông Phạm Quỳnh Giang, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Quảng cáo và Hội chợ thương mại (Vinexad), triển lãm sẽ diễn ra từ ngày 25-28/9 tại Trung tâm Hội chợ và triển lãm Sài Gòn, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh với 260 doanh nghiệp đến từ 19 quốc gia và vùng lãnh thổ như Việt Nam, Áo, Bỉ, Trung Quốc, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hong Kong, Ấn Độ, Indonesia, Italy, Nhật Bản, Malaysia, Thụy Sĩ, Đài Loan, Thái Lan, Mỹ.
Với hơn 500 gian hàng, các doanh nghiệp sẽ giới thiệu những công nghệ hàng đầu về chế biến gỗ, máy móc và nguyên phụ liệu cho ngành sản xuất gỗ lò sấy khô, công nghệ liên quan đến ngành gỗ, phụ kiện và phụ kiện lắp ráp cũng như các thiết bị hút bụi và những linh phụ kiện liên quan khác.
Nhiều tên tuổi hàng đầu của Việt Nam trong ngành chế biến, xuất khẩu sản phẩm gỗ sẽ tham gia triển lãm như Thuận Hiền, Quốc Duy, Vetta, Vạn Sự Lợi, Thiên Thành Phát… giới thiệu hệ thống máy ghép dọc tự động, ghép ngang cao tần, thiết bị lắp đặt hệ thống dây chuyền sơn, tháp sơn, súng sơn, bơm sơn, các loại máy khoan và máy khoan phay...
Về phía nước ngoài có sự tham gia của các hiệp hội như Liên đoàn nhà sản xuất máy chế biến gỗ châu Âu, Hiệp hội máy chế biến gỗ Đức, Hiệp hội máy chế biến gỗ và công cụ Italy, Hiệp hội máy chế biến gỗ Đài Loan, Hội đồng xuất khẩu gỗ cứng của Mỹ...
Theo ông Đặng Quốc Hùng, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh, sáu tháng đầu năm 2013, kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam đạt 2,46 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2012. Hiện Việt Nam đang đứng thứ 6 thế giới, thứ 2 châu Á và thứ nhất khu vực Đông Nam Á về xuất khẩu sản phẩm gỗ. Dự kiến cả năm 2013, kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam có thể đạt 5,5 tỷ USD.
Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013
6 tháng đầu năm 2013 Việt Nam xuất qua Myanmar tăng 99,41%
Việt nam chủ yếu xuất khẩu sang Myanmar trong thời gian này là sản phẩm từ sắt thép, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng, sắt thép...
Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam-Myanmar đã tăng trưởng tích cực, tuy nhiên, giá trị còn nhỏ.
Sắt thép là một trong các mặt hành xuất khẩu chính của Việt Nam sang Myanmar (Ảnh: VnEconomy)
Cụ thể, trong giai đoạn từ 2010 đến 2012 tăng trưởng với 32%/năm. Năm 2012 đạt 228 triệu USD và 6 tháng đầu năm 2013 đạt 144,3 triệu USD, tăng 23,7% so với cùng kỳ năm trước. Dự kiến trong năm 2013 kim ngạch thương mại đạt khoảng 300 triệu USD, tăng 30% so với năm 2012 và mức đầu tư của Việt Nam vào Myanmar đạt trên 500 triệu USD); các DN Việt Nam đang phấn đấu kim ngạch thương mại hai chiều đạt 500 triệu USD và mức đầu tư đạt 1 tỷ USD vào năm 2015.
6 tháng đầu năm 2013, Việt Nam đã xuất khẩu sang Myanamr 99 triệu USD, tăng 99,41% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng chính xuất khẩu sang Myanmar trong thời gian này là sản phẩm từ sắt thép, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng, sắt thép các loại, phương tiện vận tải…. trong đó mặt hàng sản phẩm từ sắt thép chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm 17%, đạt kim ngạch 16,8 triệu USD, tăng 326,06% so với cùng kỳ.
Ngược lại Myanmar xuất khẩu sang Việt Nam các mặt hàng như: gỗ và sản phẩm, hàng rau quả, hàng thủy sản. Nửa đầu năm 2013, Việt Nam nhập khẩu từ Myanamr với kim ngạch 45,2 triệu USD, giảm 32,41% so với cùng kỳ năm trước.
Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam-Myanmar đã tăng trưởng tích cực, tuy nhiên, giá trị còn nhỏ.
Sắt thép là một trong các mặt hành xuất khẩu chính của Việt Nam sang Myanmar (Ảnh: VnEconomy)
Cụ thể, trong giai đoạn từ 2010 đến 2012 tăng trưởng với 32%/năm. Năm 2012 đạt 228 triệu USD và 6 tháng đầu năm 2013 đạt 144,3 triệu USD, tăng 23,7% so với cùng kỳ năm trước. Dự kiến trong năm 2013 kim ngạch thương mại đạt khoảng 300 triệu USD, tăng 30% so với năm 2012 và mức đầu tư của Việt Nam vào Myanmar đạt trên 500 triệu USD); các DN Việt Nam đang phấn đấu kim ngạch thương mại hai chiều đạt 500 triệu USD và mức đầu tư đạt 1 tỷ USD vào năm 2015.
6 tháng đầu năm 2013, Việt Nam đã xuất khẩu sang Myanamr 99 triệu USD, tăng 99,41% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng chính xuất khẩu sang Myanmar trong thời gian này là sản phẩm từ sắt thép, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng, sắt thép các loại, phương tiện vận tải…. trong đó mặt hàng sản phẩm từ sắt thép chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm 17%, đạt kim ngạch 16,8 triệu USD, tăng 326,06% so với cùng kỳ.
Ngược lại Myanmar xuất khẩu sang Việt Nam các mặt hàng như: gỗ và sản phẩm, hàng rau quả, hàng thủy sản. Nửa đầu năm 2013, Việt Nam nhập khẩu từ Myanamr với kim ngạch 45,2 triệu USD, giảm 32,41% so với cùng kỳ năm trước.
Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013
Đại gia "thực phẩm chức năng" giành giật thị trường
Cuộc hợp phân chia thị trường đã được diễn ra với những "ông lớn" phân chia thị trường thực phẩm chức năng tại Việt Nam
Thị trường thực phẩm chức năng Việt Nam nhiều năm qua đi giữa ranh giới bóng tối và ánh sáng khi hầu hết sản phẩm gắn liền với hình thức phân phối bán hàng đa cấp chịu nhiều tai tiếng.
Song, tình hình đã thay đổi khi lần đầu tiên, các hãng thực phẩm chức
năng tại Việt Nam chịu “xuất đầu lộ diện” trong một sự kiện chính thức
do Hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam tổ chức vào đầu quý III/2013
tại Hà Nội trong khuôn khổ sự kiện Ngày hội Thực phẩm chức năng quốc tế
Việt Nam 2013 (I3F Việt Nam 2013).
Tại đây, các hãng thực phẩm chức năng lớn như Tiens, Vison, Loocen, Tân Hiệp Phát… sẽ cùng xuất hiện và phân chia “miếng bánh” thị trường với hơn 1.000 công ty khác đang có các sản phẩm thực phẩm chức năng cung cấp cho thị trường Việt Nam.
Trở lại câu chuyện về thị trường thực phẩm chức năng, theo tài liệu do Hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam cung cấp, thực phẩm chức năng du nhập vào Việt Nam qua con đường nhập khẩu từ cuối những năm 1990. Giai đoạn từ năm 2000 đến 2012 là thời kỳ phát triển bùng nổ về số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng, với số lượng từ 13 đơn vị, cung cấp 63 sản phẩm trong năm 2000 tăng lên 1.626 đơn vị với 3.721 sản phẩm vào năm 2010. Số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng tính đến cuối 2012 là 1.552 cơ sở, với hơn 5.500 sản phẩm.
Thị trường thực phẩm chức năng dù có tốc độ tăng trường chóng mặt cả về cơ sở sản xuất, kinh doanh, số lượng sản phẩm, nhưng vẫn luôn bị dư luận nhìn nhận với con mắt e ngại.
Ông Lý Lâm, Chủ tịch Tập đoàn Tiens khu vực châu Á, Tổng giám đốc Công ty TNHH Tiens Việt Nam, từ nhiều năm nay, thực phẩm chức năng đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam. Tuy nhiên, có một số nhà phân phối vì chạy theo lợi nhuận quá mức đã vô tình hoặc cố ý thổi phồng công dụng sản phẩm thực phẩm chức năng, khiến dư luận xã hội “ác cảm” với hình thức bán hàng và ghét lây các sản phẩm.
Lý giải vấn đề này, ông Trần Đáng, Chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam cho biết, câu chuyện về thực phẩm chức năng tại Việt Nam vốn đã bị hiểu sai ngay từ đầu, khi những sản phẩm đầu tiên du nhập vào Việt Nam qua con đường nhập khẩu, các công dụng đã không được chuyển ngữ (dịch) một cách đầy đủ.
Thực phẩm chức năng, theo ông Trần Đáng, về bản chất là thực phẩm. “Nó cũng như bát cháo gà cho người ốm. Thực phẩm chức năng giúp tăng cường sức khoẻ, giảm nguy cơ và tác hại của nhiều bệnh tật và làm đẹp, chứ không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh. Ngày xưa, kinh tế khó khăn, chỉ ốm mới được bồi bổ cháo gà, thì nay mọi người có thể ăn cháo gà thường xuyên để tăng cường sức khoẻ. Đó là điều hết sức bình thường”, ông Đáng nói và cho rằng, việc các sản phẩm thực phẩm chức năng thường gắn với hình thức bán hàng đa cấp là do đặc thù của sản phẩm này.
Cũng theo số liệu do Hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam công bố, chỉ tính những người sử dụng thực phẩm chức năng qua kênh bán hàng đa cấp, năm 2005 có khoảng 1 triệu người ở 23 tỉnh, thành phố sử dụng. Đến năm 2010, con số này là 5,7 triệu người (chiếm 6,5% dân số) ở 63 tỉnh, thành phố. Kết quả điều tra do Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế) tiến hành cho biết, năm 2011, ở TP.HCM có 43% số người trưởng thành và ở Hà Nội có 63% số người trưởng thành có sử dụng thực phẩm chức năng.
Sức hấp dẫn của thị trường thực phẩm chức năng không chỉ thể hiện qua số lượng các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng tăng chóng mặt. Đặc biệt, các công ty dược, thực phẩm chức năng dường như là “chiếc máy in tiền” khi hàng loạt tên tuổi trong ngành dược, như Domesco Đồng Tháp, Dược Việt Nam, Dược Hà Tây, Nam Dược, Sao Thái Dương… cũng tham gia thị trường này.
Thị trường thực phẩm chức năng Việt Nam nhiều năm qua đi giữa ranh giới bóng tối và ánh sáng khi hầu hết sản phẩm gắn liền với hình thức phân phối bán hàng đa cấp chịu nhiều tai tiếng.
|
|
||
Tại đây, các hãng thực phẩm chức năng lớn như Tiens, Vison, Loocen, Tân Hiệp Phát… sẽ cùng xuất hiện và phân chia “miếng bánh” thị trường với hơn 1.000 công ty khác đang có các sản phẩm thực phẩm chức năng cung cấp cho thị trường Việt Nam.
Trở lại câu chuyện về thị trường thực phẩm chức năng, theo tài liệu do Hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam cung cấp, thực phẩm chức năng du nhập vào Việt Nam qua con đường nhập khẩu từ cuối những năm 1990. Giai đoạn từ năm 2000 đến 2012 là thời kỳ phát triển bùng nổ về số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng, với số lượng từ 13 đơn vị, cung cấp 63 sản phẩm trong năm 2000 tăng lên 1.626 đơn vị với 3.721 sản phẩm vào năm 2010. Số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng tính đến cuối 2012 là 1.552 cơ sở, với hơn 5.500 sản phẩm.
Thị trường thực phẩm chức năng dù có tốc độ tăng trường chóng mặt cả về cơ sở sản xuất, kinh doanh, số lượng sản phẩm, nhưng vẫn luôn bị dư luận nhìn nhận với con mắt e ngại.
Ông Lý Lâm, Chủ tịch Tập đoàn Tiens khu vực châu Á, Tổng giám đốc Công ty TNHH Tiens Việt Nam, từ nhiều năm nay, thực phẩm chức năng đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam. Tuy nhiên, có một số nhà phân phối vì chạy theo lợi nhuận quá mức đã vô tình hoặc cố ý thổi phồng công dụng sản phẩm thực phẩm chức năng, khiến dư luận xã hội “ác cảm” với hình thức bán hàng và ghét lây các sản phẩm.
Lý giải vấn đề này, ông Trần Đáng, Chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam cho biết, câu chuyện về thực phẩm chức năng tại Việt Nam vốn đã bị hiểu sai ngay từ đầu, khi những sản phẩm đầu tiên du nhập vào Việt Nam qua con đường nhập khẩu, các công dụng đã không được chuyển ngữ (dịch) một cách đầy đủ.
Thực phẩm chức năng, theo ông Trần Đáng, về bản chất là thực phẩm. “Nó cũng như bát cháo gà cho người ốm. Thực phẩm chức năng giúp tăng cường sức khoẻ, giảm nguy cơ và tác hại của nhiều bệnh tật và làm đẹp, chứ không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh. Ngày xưa, kinh tế khó khăn, chỉ ốm mới được bồi bổ cháo gà, thì nay mọi người có thể ăn cháo gà thường xuyên để tăng cường sức khoẻ. Đó là điều hết sức bình thường”, ông Đáng nói và cho rằng, việc các sản phẩm thực phẩm chức năng thường gắn với hình thức bán hàng đa cấp là do đặc thù của sản phẩm này.
Cũng theo số liệu do Hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam công bố, chỉ tính những người sử dụng thực phẩm chức năng qua kênh bán hàng đa cấp, năm 2005 có khoảng 1 triệu người ở 23 tỉnh, thành phố sử dụng. Đến năm 2010, con số này là 5,7 triệu người (chiếm 6,5% dân số) ở 63 tỉnh, thành phố. Kết quả điều tra do Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế) tiến hành cho biết, năm 2011, ở TP.HCM có 43% số người trưởng thành và ở Hà Nội có 63% số người trưởng thành có sử dụng thực phẩm chức năng.
Sức hấp dẫn của thị trường thực phẩm chức năng không chỉ thể hiện qua số lượng các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng tăng chóng mặt. Đặc biệt, các công ty dược, thực phẩm chức năng dường như là “chiếc máy in tiền” khi hàng loạt tên tuổi trong ngành dược, như Domesco Đồng Tháp, Dược Việt Nam, Dược Hà Tây, Nam Dược, Sao Thái Dương… cũng tham gia thị trường này.
Quang Hưng
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)